vanban.org

Bản án 27/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 07/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Phương Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Phương Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam là ngày 03/9/2025. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Phương Đ - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Phương Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2026/HS-ST
Ngày: 07/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Trung Kiên;

Ông Võ Nguyên Giác.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký TAND Khu vực 9 – Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Cao Kỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2026/TLST-HS, ngày 11 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2026/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Hoàng Phương Đ, sinh ngày 15/12/1993 tại tỉnh Phú Thọ. Số CCCD: 026093014130. Nơi thường trú: làng K, xã I, tỉnh Gia Lai; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn B, sinh năm: 1967 và bà Dương Thị N, sinh năm: 1970. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/8/2015, bị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội Cố ý gây thương tích, tuyên phạt 05 năm tù, ngày 27/12/2017 chấp hành xong hình phạt. Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 03/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh G. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ ngày 02/9/2025, Hoàng Phương Đ dùng điện thoại liên hệ qua mạng xã hội facebook với một nam thanh niên tên B1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy đá với giá 2.000.000 đồng, mục đích để sử dụng cá nhân. B1 đồng ý và hẹn gặp Đ tại khu vực đường nhựa thuộc làng K, xã I, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Đ đến điểm hẹn, đưa cho B1 2.000.000 đồng và nhận từ B1 01 gói ma túy đá, sau đó trở về nhà tại làng K, xã I, tỉnh Gia Lai. Sau khi về nhà, Đ lên phòng ngủ, lấy gói ma túy đổ một ít ma túy vào 01 (một) ống thủy tinh để sử dụng ngay, đồng thời bỏ ma túy trong 09 đoạn ống hút nhựa (trong đó 07 đoạn chứa ma túy được cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc trên người, 02 đoạn để trên sàn nhà nhằm mục đích tiếp tục sử dụng), số ma túy còn lại được gói trong 01 túi nilon và cất giấu dưới nắp nhựa trên sàn nhà. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, lúc này Đ đang ở tại phòng ngủ trên gác lỡ thì Tổ công tác Công an xã I phối hợp với Đội phòng chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng I kiểm tra hành chính nơi ở của Hoàng Phương Đ tại làng K, xã I, tỉnh Gia Lai phát hiện Đ có hành vi cất giấu 07 đoạn ống nhựa trong túi quần bên phải đang mặc và 02 (hai) đoạn ống nhựa cùng 01 gói nilon bên trong chứa chất rắn, dạng tinh thể, màu trắng; 01 (một) ống thủy tinh dài khoảng 3cm, một đầu phình to, bên trong có bám dính ít chất rắn màu nâu trắng. Đ khai nhận toàn bộ số chất trong 09 đoạn ống nhựa, 01 gói nilon và 01 ống thủy tinh đều là ma túy đá. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng theo đúng quy định pháp luật. Tại bản kết luận giám định số 327/KL-KTHS ngày 10/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận:

“Toàn bộ chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong 10 (mười) gói nilon đựng trong bì công văn ghi “số 1” gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,5274 gam.

Chất màu trắng, nâu bám dính trong 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh, một đầu uốn cong, phình to dựng trong bì công văn ghi “số 2” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng”.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 02/9/2025: Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Hoàng Phương Đ là dương tính với ma túy, các loại Methamphetamine, A.

Tại bản Cáo trạng số: 38/CT - VKS ngày 10 tháng 02 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Hoàng Phương Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Phương Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Phương Đ từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có nghề nghiệp không ổn định và không có tài sản gì, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47, 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 bì công văn “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, mặt trước ghi “Số 1” và “Số 327/PC09, ngày 10 tháng 9 năm 2025”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Phan Nguyễn Đ1 và Nguyễn Thành Đ2. Đây là ma túy liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 bì công văn “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, mặt trước ghi “Số 2” và “Số 327/PC09, ngày 10 tháng 9 năm 2025”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Phan Nguyễn Đ1 và Nguyễn Thành Đ2. Đây là ống tủy tinh để bị cáo sử dụng ma túy nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 bì công văn “CÔNG AN XÃ IA CHIA”, mặt trước ghi “QT”, tại mép dán của bì công văn có đóng dấu tròn của Công an xã I, nội dung “CÔNG AN XÃ IA CHIA *CÔNG AN TỈNH GIA LAI” cùng các chữ ký, chữ viết ghi Nguyễn Thành Đ2, Nguyễn Anh D, Hoàng Phương Đ và Trần Thanh L. Đây là que test thử nhanh ma túy nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 bật lửa nhãn hiệu “VGT 218", màu trắng, đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm chai nhựa có nắp màu vàng gắn kèm 02 ống hút; 01 kéo cắt bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng. Đây là các công cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 bì công văn “CÔNG AN XÃ IA CHIA”, mặt trước ghi “ĐT”, tại mép dán của bì công văn có đóng dấu tròn của Công an xã I, nội dung “CÔNG AN XÃ IA CHIA *CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký, chữ viết ghi Nguyễn Thành Đ2, Nguyễn Anh D, Hoàng Phương Đ và Trần Thanh L. Đây là điện thoại của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Phương Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thống nhất bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Phương Đ tại phiên tòa phù hợp lời khai tại hồ sơ và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ có sở xác định: Do sử dụng ma túy và để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên Hoàng Phương Đ đã mua một gói ma túy của một người đàn ông tên B1 (không rõ nhân thân lai lịch) tại khu vực đường nhựa thuộc làng K, xã I, tỉnh Gia Lai với giá là 2.000.000 đồng, rồi mang về nhà tại làng K, xã I, tỉnh Gia Lai, bị cáo đổ một ít ma túy vào một ống thủy tinh để sử dụng ngay, đồng thời bỏ ma túy vào trong 09 đoạn ống hút nhựa (trong đó 07 đoạn chứa ma túy được cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc trên người, 02 đoạn để trên sàn nhà nhằm mục đích tiếp tục sử dụng), số ma túy còn lại được gói trong 01 túi nilon và cất giấu dưới nắp nhựa trên sàn nhà. Tại kết luận giám định kết luận 09 đoạn ống nhựa bên trong có chứa chất rắn, dạng tinh thể, màu trắng; 01 gói nilon bên trong có chứa chất rắn, dạng tinh thể, màu trắng đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,5274 gam. Hành vi của bị cáo Hoàng Phương Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Gia Lai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ma túy là chất thuộc sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Mọi hành tàng trữ trái phép chất ma túy đều phải bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật. Bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là việc làm bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị nghiêm trị, nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện việc tàng trữ chất ma túy một cách trái pháp luật để đạt được mục đích của mình. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

- Về nhân thân: Ngày 06/8/2015, bị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội Cố ý gây thương tích, tuyên phạt 05 năm tù, ngày 27/12/2017 chấp hành xong hình phạt.

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập hay tài sản gì, nên không áp dụng hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 bì công văn “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, mặt trước ghi “Số 1” và “Số 327/PC09, ngày 10 tháng 9 năm 2025”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Phan Nguyễn Đ1 và Nguyễn Thành Đ2. Đây là ma túy liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 bì công văn “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, mặt trước ghi “Số 2” và “Số 327/PC09, ngày 10 tháng 9 năm 2025”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Phan Nguyễn Đ1 và Nguyễn Thành Đ2. Đây là ống tủy tinh để bị cáo sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 bì công văn “CÔNG AN XÃ IA CHIA”, mặt trước ghi “QT”, tại mép dán của bì công văn có đóng dấu tròn của Công an xã I, nội dung “CÔNG AN XÃ IA CHIA *CÔNG AN TỈNH GIA LAI” cùng các chữ ký, chữ viết ghi Nguyễn Thành Đ2, Nguyễn Anh D, Hoàng Phương Đ và Trần Thanh L. Đây là que test thử nhanh ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 bật lửa nhãn hiệu “VGT 218", màu trắng, đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm chai nhựa có nắp màu vàng gắn kèm 02 ống hút; 01 kéo cắt bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng. Đây là các công cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 bì công văn “CÔNG AN XÃ IA CHIA”, mặt trước ghi “ĐT”, tại mép dán của bì công văn có đóng dấu tròn của Công an xã I, nội dung “CÔNG AN XÃ IA CHIA *CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký, chữ viết ghi Nguyễn Thành Đ2, Nguyễn Anh D, Hoàng Phương Đ và Trần Thanh L. Đây là điện thoại của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Phương Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng khác: Đối với người đàn ông tên B1 chưa rõ nhân thân, lai lịch, bán ma túy cho Hoàng Phương Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch, nhưng chưa xác định được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý theo sau quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Phương Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Phương Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam là ngày 03/9/2025.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy

- 01 (một) bì công văn “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, mặt trước ghi “Số 1” và “Số 327/PC09, ngày 10 tháng 9 năm 2025”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Phan Nguyễn Đ3 và Nguyễn Thành Đ2.

- 01 (một) bì công văn “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, mặt trước ghi “Số 2” và “Số 327/PC09, ngày 10 tháng 9 năm 2025”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI *PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Phan Nguyễn Đ3 và Nguyễn Thành Đ2.

- 01 (một) bì công văn “CÔNG AN XÃ IA CHIA”, mặt trước ghi “QT”, tại mép dán của bì công văn có đóng dấu tròn của Công an xã I, nội dung “CÔNG AN XÃ IA CHIA *CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký, chữ viết ghi Nguyễn Thành Đ2, Nguyễn Anh D, Hoàng Phương Đ và Trần Thanh L.

- 01 (một) bật lửa nhãn hiệu “VGT 218", màu trắng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm chai nhựa có nắp màu vàng gắn kèm 02 (hai) ống hút

- 01 (một) kéo cắt bằng kim loại, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cân tiểu ly, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng;

Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh trắng, số Seril: 869035041748852, số Seri2: 869035041748845, đã qua sử dụng được cho vào 01 (một) bì công văn “CÔNG AN XÃ IA CHIA”, mặt trước ghi “ĐT”, tại mép dán của bì công văn có đóng dấu tròn của Công an xã I, nội dung “CÔNG AN XÃ IA CHIA *CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký, chữ viết ghi Nguyễn Thành Đ2, Nguyễn Anh D, Hoàng Phương Đ và Trần Thanh L.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 9, tỉnh Gia Lai). Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Phương Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ