vanban.org

Bản án 27/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2026/HS-ST
Ngày: 20-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sơn

2. Ông Huỳnh Văn Đẹp

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Phúc, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trọng Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 287/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 320/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 20265; Quyết định Hoãn phiên tòa số: 258/2026/HSST-QĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025; Quyết định Hoãn phiên tòa số: 300/2026/HSST-QĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh Khánh Hòa; CCCD số: 058090006175; Nơi thường trú: thôn N, xã P, tỉnh Khánh Hòa (địa chỉ trước sáp nhập: thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận); Nơi ở hiện tại: Nhà không số, ấp B, xã V, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ trước sáp nhập: Nhà không số, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12

Nghề nghiệp: Tài xế; Họ tên cha: Nguyễn Văn T (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Q (đã chết); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/6/2025 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Ông Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, Xã T, Vĩnh Long

- Ông Đặng Văn D, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, Xã N, Thành phố Cần Thơ

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Công ty Cổ phần nước Hoàng Minh

Địa chỉ trụ sở: 64 P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo pháp luật: Ông Võ Đăng L2, chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc B, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ liên lạc: F P, phường B, Tp .

- Bà Phan Mộng T1, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp D, xã C, tỉnh Vĩnh Long

- Bà Vy Thị Kim T2, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: tổ I, ấp D, xã T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 22/3/2025, Nguyễn Văn L điều khiển xe ô tô tải biển số 60H – 036.32 lưu thông trên đường N hướng từ Ngã Ba G đến Long An. Khi đến trước nhà số A ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì L đã để đầu xe ô tô của mình đụng vào đuôi xe ô tô con biển số 64A - 121.74 do Nguyễn Thanh L1 điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều và đẩy xe ô tô con biển số 64A - 121.74 lao tới phía trước tiếp tục đụng vào đuôi xe ô tô tải biển số 51C - 374.11 do Đặng Văn D điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều, làm xảy ra tai nạn giao thông liên hoàn giữa 03 xe.

Hậu quả: Xe ô tô con biển số 64A - 121.74 bị hư hỏng nặng. Xe ô tô tải biển số 60H – 036.32 và xe ô tô tải biển số 51C - 374.11 hư hỏng nhẹ.

Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong cơ thể của L, L1, D, kết quả: 0,000mg/lít khí thở và xét nghiệm ma túy là âm tính.

*Kết luận định giá tài sản số: 43/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận:

- Thiệt hại của xe ô tô biển số 64A - 121.74 (Nhãn hiệu: Suzuki, số loại: ERTIGA GL 5MT, màu bạc do I sản xuất năm 2021, xe đăng ký lần đầu ngày 14/02/2022), chi tiết theo danh mục tài sản đính kèm. Ngày 22/3/2025, có giá trị là 142.705.467 đồng.

- Thiệt hại của xe ô tô biển số 51C - 374.11 (Nhãn hiệu: Isuzu, số loại: FVM FVM34WE4B/TN-MBVS-22, màu trắng do Việt Nam sản xuất năm 2023, xe đăng ký lần đầu ngày 01/8/2024). Ngày 22/3/2025, có giá trị là 400.000 đồng (Gồm: Sửa chữa cản sau: 200.000 đồng và sửa chữa ốp nhựa, khung viền biển số sau đuôi xe: 200.000 đồng).

Tổng thiệt hại của các xe ô tô biển số: 64A – 121.74 và 51C – 374.11 có giá trị là 143.105.467 đồng.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra tai nạn, là trên đoạn đường thẳng và trên chiều đường bên phải của đường N hướng từ Ngã Ba G đến Long An. Trên chiều đường này được tráng nhựa tương đối bằng phẳng và được phân thành 02 làn đường (Làn đường bên phải rộng 1m40 dành cho xe mô tô 2-3 bánh và xe thô sơ lưu thông, làn đường bên trái rộng 3m10 dành cho xe ô tô các loại lưu thông), ở giữa 02 làn đường có kẻ vạch sơn không liên tục. Nơi đây không có chướng ngại vật hay biển báo hiệu gì. Tình hình giao thông lúc xảy ra tai nạn là bình thường. Tại hiện trường xác định:

- Vị trí xe ô tô biển số 51C - 374.11 dừng trên làn đường bên trái. Đầu xe hướng về Long An, đuôi xe hướng về Ngã Ba G. Đầu trục 1, 2 và 3 bên phải của xe ô tô này đo cách mép đường bên phải của đường Nguyễn Văn B1 (hướng từ Ngã Ba G đến Long An) được làm lề chuẩn để đo đạc được: 3m10, 3m10 và 3m10. Đầu trục 1 bên phải xe ô tô này đo cách chân trụ điện không số cố định bên ngoài lề chuẩn được: 5m80.

- Vị trí xe ô tô biển số 64A - 121.74 dừng trên làn đường bên trái và vị trí xe ô tô này dừng là ngay sau đuôi xe ô tô biển số 51C - 374.11. Đầu xe hướng về Long An, đuôi xe hướng về Ngã Ba G. Đầu trục 1 và 2 bên phải xe ô tô này đo cách lề chuẩn được: 3m00 và 3m00. Đầu trục 1 bên phải xe ô tô này đo cách đầu trục 3 bên phải xe ô tô biển số 51C - 374.11 được: 3m20.

- Vị trí xe ô tô biển số 60H - 036.32 dừng trên lần đường bên trái và vị trí xe ô tô này dừng ngay sau đuôi xe ô tô biển số 64A - 121.74. Đầu xe hướng về Long An, đuôi xe hướng về Ngã Ba G. Đầu trục 1 và 2 bên phải xe ô tô này đo cách lề chuẩn được: 3m29 và 3m20, đầu trục 1 bên phải xe ô tô này đo cách đầu trục 2 bên phải xe ô tô biển số 64A - 121.74 được: 2m00.

* Kết luận giám định số: 1461/KL-KTHS ngày 21/4/2025 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh, giám định dấu vết va chạm giữa các xe ô tô cho kết quả:

1. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 60H - 036.32, xe ô tô biển số 64A - 121.74 và xe ô tô biển số 51C - 374.11:

1.1. Dấu vết bên phải phía trước và phía trước xe ô tô biển số 60H - 036.32 (trượt xước, biến dạng, mất chất màu xanh mặt ngoài phía trước các bộ phận: Cản bảo hiểm trước, biển số, khung lưới tản nhiệt, ốp kim loại đầu xe) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết bên trái phía sau và phía sau xe ô tô biển số 64A

- 121.74 (trượt xước, biến dạng, bám chất màu xanh mặt ngoài phía sau các bộ phận: Cản bảo hiểm, biển số, cốp xe, nắp cốp xe, cụm đèn sau) có chiều từ sau về trước.

1.2. Dấu vết bên trái phía trước vầ phía trước xe ô tô biển số 64A - 121.74 (trượt xước, biến dạng, bám chất màu trắng mặt ngoài phía trước nắp ca pô; trượt xước, bám chất màu vàng mặt ngoài bên trái cản bảo hiểm; trượt xước, biến dạng khung kim loại đầu xe, két nước; gãy vỡ cụm đèn bên trái) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết phía sau xe ô tô biển số 51C - 374.11 (trượt xước, mất chất màu trắng mặt ngoài cạnh dưới cản lắp đèn tín hiệu; trượt xước, biến dạng, mất chất màu vàng mặt ngoài phía sau cản bảo hiểm sau, biển số) có chiều từ sau về trước.

2. Khi va chạm, 03 phương tiện chuyển động cùng chiều nhau trên đường N, hướng Ngã Ba Giồng đi tỉnh Long An theo thứ tự lần lượt từ trước ra sau: Xe ô tô biển số 51C - 374.11 (số A), xe ô tô biển số 64A - 121.74 (số B), xe ô tô biển số 60H - 036.32 (số C).

*Kết luận giám định số: 1684/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh về tình trạng an toàn kỹ thuật của hệ thống phanh, hệ thống ga, hệ thống lái xe ô tô biển số 60H - 036.32 có kết luận:

- Khi tham gia tai nạn giao thông, hệ thống ga và hệ thống lái xe ô tô biển số 60H - 036.32 hoạt động bình thường, không bị hư hỏng.

- Khi tham gia tai nạn giao thông, hệ thống phanh trên xe ô tô biển số 60H - 036.32 bị hư hỏng, không đảm bảo an toàn kỹ thuật.

*Công văn số: 781/C09B ngày 28/5/2025 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh trả lời việc xe ô tô biển số 60H - 036.32 đã chở hàng hóa có khối lượng vượt quá khối lượng theo thiết kế cho phép tham gia giao thông (12.720kg/11.470kg) lúc xảy ra tai nạn có làm ảnh hưởng đến đặc tính kỹ thuật của xe, trong đó có cả hệ thống phanh.

Nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông nêu trên là do Nguyễn Văn L điều khiển xe ô tô biển số 60H - 036.32 không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước trên cùng làn đường, chở hàng hóa vượt quá khối lượng toàn bộ theo thiết kế và cho phép tham gia giao thông (12.720kg/11.470kg) đã làm cho hệ thống phanh của xe bị hư hỏng, không bảo đảm an toàn kỹ thuật tham gia giao thông nên khi L phát hiện phía trước cùng chiều có các xe ô tô biển số 64A - 121.74 do Nguyễn Thanh L1 điều khiển và xe ô tô biển số 51C - 374.11 do Đặng Văn D điều khiển và L liền đạp phanh để giảm tốc độ xe lại nhưng không giảm được tốc độ, xe chạy đến trước đụng vào đuôi xe ô tô biển số 64A - 121.74 làm cho xe ô tô biển số 64A - 121.74 lao tới phía trước tiếp tục đụng vào đuôi xe ô tô biển số 51C

- 374.11 làm xảy ra tai nạn với hậu quả nêu trên. L đã vi phạm vào Điều 12, 49 của Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ Việt Nam năm 2024.

Về phía Nguyễn Thanh L1 điều khiển xe ô tô biển số 64A - 121.74, Đặng Văn D điều khiển xe ô tô biển số 51C - 374.11 lúc tai nạn lưu thông đúng làn đường và đúng tốc độ qui định nên không có lỗi vi phạm gì.

Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô tải biển số 60H – 036.32; 01 xe ô tô biển số 64A - 121.74; 01 xe ô tô biển số 51C - 374.11. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trả các xe ô tô này cho chủ sở hữu quản lý.

Về dân sự: Sau tai nạn, các bên liên quan đã tự thỏa thuận giải quyết xong hậu quả dân sự và chủ xe ô tô biển số 51C - 374.11 và xe ô tô biển số 64A - 121.74 đã có đơn bãi nại cho Nguyễn Văn L và cam kết không khiếu nại gì về sau trong vụ tai nạn giao thông này.

Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKS.KV8 ngày 04 tháng 09 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô tải biển số 60H - 036.32; 01 xe ô tô biển số 64A - 121.74; 01 xe ô tô biển số 51C - 374.11 Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trả các xe ô tô này cho chủ sở hữu quản lý nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, các bên liên quan đã tự thỏa thuận giải quyết xong hậu quả dân sự và chủ xe ô tô biển số 51C - 374.11 và xe ô tô biển số 64A - 121.74 đã có đơn bãi nại cho Nguyễn Văn L và cam kết không khiếu nại gì về sau trong vụ tai nạn giao thông này nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 22/3/2025, Nguyễn Văn L điều khiển xe ô tô tải biển số 60H - 036.32 lưu thông trên đường N hướng từ Ngã Ba G đi Long An. Khi đến trước nhà số A ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do chở hàng hóa quá tải trọng quy định và không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước, L đã để đầu xe ô tô của mình đụng vào đuôi xe ô tô con biển số 64A - 121.74 do Nguyễn Thanh L1 điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều và đẩy xe ô tô con biển số 64A - 121.74 lao tới phía trước tiếp tục đụng vào đuôi xe ô tô tải biển số 51C - 374.11 do Đặng Văn D điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều, làm xảy ra tai nạn giao thông liên hoàn giữa 03 xe. Hậu quả gây thiệt hại cho các xe ô tô biển số: 64A – 121.74 và 51C – 374.11 có tổng giá trị là 143.105.467 (một trăm bốn mươi ba triệu một trăm lẻ năm ngàn bốn trăm sáu mươi bảy) đồng.

Nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông nêu trên là do Nguyễn Văn L điều khiển xe ô tô biển số 60H - 036.32 không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước trên cùng làn đường, chở hàng hóa vượt quá khối lượng toàn bộ theo thiết kế và cho phép tham gia giao thông (12.720kg/11.470kg) đã làm cho hệ thống phanh của xe bị hư hỏng, không bảo đảm an toàn kỹ thuật tham gia giao thông, đã vi phạm vào Điều 12, 49 của Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ Việt Nam năm 2024.

Về phía Nguyễn Thanh L1 điều khiển xe ô tô biển số 64A - 121.74, Đặng Văn D điều khiển xe ô tô biển số 51C - 374.11 lúc tai nạn lưu thông đúng làn đường và đúng tốc độ qui định nên không có lỗi vi phạm gì.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết “Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 -Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tài sản của người khác. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, các bên liên quan đã tự thỏa thuận giải quyết xong hậu quả dân sự và chủ xe ô tô biển số 51C - 374.11 và xe ô tô biển số 64A - 121.74 đã có đơn bãi nại cho bị cáo và cam kết không khiếu nại gì về sau trong vụ tai nạn giao thông này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2/ Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q1;

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3/ Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ