vanban.org

Bản án 27/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt Vũ Minh Q 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2025. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh Q - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Vũ Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2026/HS-ST
Ngày: 27-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hóa.

Bà Trần Thị Phượng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Vũ Minh Q, sinh năm 1993; sinh trú quán: Thôn 12, xã Hải A, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn D, sinh năm 1968; và bà Phạm Thị P, sinh năm 1970. Chị em ruột có 02 người, bị cáo là thứ hai. Vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2025 cho đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến:

1. Anh Bùi Văn H, sinh năm 1994. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mắc nghiện ma tuý nên khoảng 13 giờ ngày 26/10/2025, Vũ Minh Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 18H1 - 488.96 đi từ nhà ở thôn 12, xã Hải A, tỉnh Ninh Bình theo dọc bờ đê sông Ninh Cơ tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến Khu vực bờ sông Ninh Cơ thuộc xã Hải A, Q gặp một nam thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi, biết người này có bán ma túy đá nên Q hỏi mua 500.000 đồng, người đàn ông đồng ý bán, nhận tiền và chỉ cho Q chỗ để ống nhựa màu xanh chứa ma túy ở mép đường đê cách vị trí người này 500m. Q điều khiển xe ra mép đường đê, nhìn thấy 01 ống nhựa có kích thước (2,5 x 0,3)cm bên trong có chứa ma túy, sau đó Q dùng tay phải nhặt ống nhựa màu xanh cho vào túi quần bên trái và điều khiển xe đi về. Đến 14 giờ cùng ngày, Q về đến Khu vực đường dong thuộc thôn 3B H, xã Hải A, tỉnh Ninh Bình thì bị tổ công tác của Công an xã Hải A kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Q 01 ống nhựa màu xanh, kích thước (2,5 x 0,3) cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (Niêm phong ký hiệu M). Q khai nhận đó là ma túy đá cất giấu để sử dụng cho bản thân; thu giữ mẫu nước tiểu của Vũ Minh Q (niêm phong ký kiệu M1). Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Q 01 xe mô tô biển số 18H1 - 488.96. Quá trình điều tra, Vũ Minh Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại các bản kết luận giám định số 1640 và 1641 ngày 03/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 0,240 gam được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp theo danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định.

Cáo trạng số 47/CT-VKS-KV11 ngày 27/01/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình truy tố bị cáo Vũ Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vũ Minh Q phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Minh Q từ 42 đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận đã phạm tội, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người chứng kiến, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình cùng các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do mắc nghiện ma túy nên hồi 14 giờ ngày 26/10/2025, tại khu vực đường dong thôn 3B H, xã Hải A, tỉnh Ninh Bình. Vũ Minh Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,240 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Hải A, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1640 ngày 03/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình. Sau giám định xác định là Methamphetamine là vật nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 18H1 - 488.96 thu giữ của Vũ Minh Q. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của bị cáo Q dùng làm phương tiện đi lại, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

1.1. Tuyên bố bị cáo Vũ Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.2. Xử phạt Vũ Minh Q 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2025.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ gói Methamphetamine trong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1640/KL-KTHS ngày 03/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Minh Q 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 18H1 - 488.96.

(Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 24/02/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 – Ninh Bình).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Vũ Minh Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND + VKSND Ninh Bình;

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND Khu vực 11;

- Công an tỉnh Ninh Bình;

- THADS tỉnh Ninh Bình;

- UBND xã Hải A;

- Bị cáo;

Nguyễn Văn Đính

- Hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Phông

Lưu Văn Đê

Nguyễn Văn Đính

Cỡ chữ