vanban.org

Bản án 27/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Tư L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Tư L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Ngô Tư L được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Tư L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2026/HS-ST
Ngày 26 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lệ Hoa

Bà Lê Thị Tú Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Bảo - Kiểm sát viên

Trong ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 22/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Tư L, sinh ngày 01/01/1992, tại tỉnh Vĩnh Long, số căn cước: 084092xxxxxx

Nơi cư trú: ấp I, xã A, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn H và bà Trần Thị K; bị cáo có vợ tên Trương Thị Cẩm G (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 tiền sự. Cụ thể, ngày 16/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh có quyết định đưa Ngô Tư L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Trà Vinh từ ngày 21/02/2023 đến ngày 21/11/2024.

Nhân thân:

+ Ngày 24/8/2009, Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh phạt Ngô Tư L 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Chống người thi hành công vụ"; thời gian thử thách 01 năm 11 tháng 24 ngày; đã chấp hành xong.

+ Ngày 30/10/2017, Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh phạt Ngô Tư L 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản"; đã chấp hành xong.

+ Ngày 15/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long phạt L 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản"; đã chấp hành xong.

+ Ngày 29/3/2017, Công an xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính Ngô Tư L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Ngày 14/4/2017, Công an xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Ngày 02/6/2017, Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh quyết định áp dụng biện pháp giáo dục L hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian 03 tháng.

+ Ngày 27/7/2020, Công an xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính L hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Ngày 14/8/2020, Công an xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính L hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/10/2025, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/11/2024, bị cáo Ngô Tư L chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trở về địa phương sinh sống tại ấp I, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã A, tỉnh Vĩnh Long). Sau đó, L được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã A, tỉnh Vĩnh Long) ra Quyết định số 490/QĐ-UBND ngày 22/11/2024 về quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn quản lý từ ngày 22/11/2024 đến ngày 22/11/2026. Hàng tháng, L đều được tiến hành kiểm tra chất ma túy trong cơ thể và cảm hóa, giáo dục việc không tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.

Đến khoảng 09 giờ ngày 17/8/2025, L muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân nên rời khỏi nhà đón xe buýt đến bến xe buýt V (thuộc phường L, tỉnh Vĩnh Long) và tiếp tục đi xe honda khách (không rõ họ tên, địa chỉ người lái xe) đến khu vực C đêm thuộc phường L, tỉnh Vĩnh Long gặp một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 100.000 đồng ma túy Methamphetamine và 100.000 đồng ma túy Heroine được chứa trong 02 ống hút nhựa màu trắng.

Khi nhận ma túy xong, L đón xe honda khách của một người đàn ông khác (không rõ họ tên, địa chỉ) đến khu vực Công viên Đài truyền hình V (nay là Công viên T thuộc khóm H, phường P, tỉnh Vĩnh Long). L nói với người đàn ông đợi để L đi vệ sinh và đi vào bên trong bụi cây sử dụng hết số ma túy Methamphetamine, H1 mà bị cáo vừa mua bằng cách trộn lẫn ma túy vào nhau rồi bỏ vào giấy bạc dùng quẹt gas hơ giấy bạc hít ma túy vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, L ra cổng công viên yêu cầu người đàn ông chở L đến khu vực vòng xuyến gần Bệnh viện Đ để đón xe buýt về nhà.

Đến ngày 23/8/2025, Công an xã H, tỉnh Vĩnh Long tuần tra hành chính, kiểm tra chất ma túy trong cơ thể của L bằng que test nhanh, kết quả dương tính với chất ma túy. Qua làm việc, Ngô Tư L thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như trên.

Tại Kết luận giám định số 1350/KL-KTHS ngày 05/9/2025, Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nước tiểu chứa trong lọ nhựa trong suốt có nắp màu trắng đậy kín ghi thu của ông Ngô Tư L, sinh năm: 1992 được thu giữ từ lúc 11 giờ 10 phút đến 11 giờ 35 phút ngày 24/8/2025 tại Công an xã H, tỉnh Vĩnh Long, được niêm phong gửi giảm định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Kết quả điều tra đối với người đàn ông đã bán ma túy cho L do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa làm việc được, khi nào xác minh, tìm được sẽ tiến hành xử lý theo quy định.

Tại Cáo trạng số 03A/CT-VKSND-KV1 ngày 02/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long truy tố bị cáo Ngô Tư L tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo Ngô Tư L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và đồng ý với tội danh bị cáo bị truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long tham gia xét xử trình bày luận tội:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Tư L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025); khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo Ngô Tư L. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Ngô Tư L từ 02 năm - 02 năm 06 tháng tù. Xử lý vật chứng: Không có. Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Tư L nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Ngô Tư L không tham gia tranh luận và trình bày lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Tư L là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm ít nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trở về địa phương sinh sống từ ngày 20/11/2024, đang được Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Vĩnh Long quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn quản lý từ ngày 22/11/2024 đến ngày 22/11/2026 nhưng bị cáo không sửa chữa, tu dưỡng, rèn luyện để từ bỏ được ma túy dẫn đến ngày 17/8/2025 tìm mua và sử dụng ma túy Methamphetamine, H1. Ngày 23/8/2025, Công an xã H, tỉnh Vĩnh Long kiểm tra chất ma túy trong cơ thể của L bằng que test nhanh, kết quả dương tính với chất ma túy. Tại Bản kết luận giám định số 1350/KL-KTHS ngày 05/9/2025, Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận mẫu nước tiểu thu được từ L có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Hành vi L sử dụng trái phép chất ma túy đã vi phạm quy định pháp luật, gây ảnh hưởng hiệu quả quản lý trật tự xã hội của Nhà nước, tiếp tục đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo cần phải bị xử lý với một hình phạt nghiêm tương ứng trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 tiền sự và nhân thân không tốt (03 bản án xét xử, 05 lần bị xử phạt vi phạm hành chính).

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự như đã nhận định, Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo được sự răn đe, giáo dục, giúp bị cáo cải tạo bản thân để trở thành người có ích, tuân theo pháp luật cùng các quy tắc của cuộc sống và cũng góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.

Xử lý vật chứng: Không có.

Án phí: Buộc bị cáo Ngô Tư L nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025); khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo Ngô Tư L.

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Tư L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Ngô Tư L 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Ngô Tư L được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Án phí: Buộc bị cáo Ngô Tư L nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo Ngô Tư L. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ