vanban.org

Bản án 27/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Đỗ Văn Q.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Đỗ Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 24/4/2024 (hiện cháu đang sinh sống cùng chị L); anh Đỗ Văn Q không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị L. Vì quyền lợi của con chung, sau khi ly hôn, các bên có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L"
  • Tòa quyết gì? Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Đỗ Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 31 tháng 3 năm 2026
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Văn Khảm, bà Bùi Thị Kim Thanh

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Hải Yến - Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 267/2025/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1998, vắng mặt

Nơi cư trú: Xóm Hưng Nghĩa 8, xã Lam Thành, tỉnh Nghệ An

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hoàng Dũng, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số 170, Nguyễn Văn Linh, phường Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn Q, sinh năm 1993, vắng mặt

Nơi cư trú: Ngõ 7A1, Thôn 6, xã Nguyệt Đức, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/10//2025, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hoàng Dũng trình bày:

Về tình cảm vợ chồng: Chị và anh Đỗ Văn Q kết hôn ngày 30/01/2023, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Trung Hà, nay là xã Nguyệt Đức, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau và có khoảng thời gian hạnh phúc; sau đó trong cuộc sống hàng ngày phát sinh các mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp; tuy được gia đình hai bên động viên nhưng không có kết quả, vợ chồng ngày càng không quan tâm nhau, tình cảm nhạt nhẽo. Hiện chị L đã về nhà bố mẹ đẻ tại tỉnh Nghệ An sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân.

Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 24/4/2024, hiện cháu đang sống cùng chị L.

Ly hôn, chị L xin được nuôi con, không yêu cầu anh Q phải đóng góp nuôi con chung cùng.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị xin chịu nộp toàn bộ theo quy định.

Bị đơn anh Đỗ Văn Q vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/8/2025, anh Giang trình bày:

Về thời gian, thủ tục kết hôn, quá trình chung sống, thời gian vợ chồng ly thân, mâu thuẫn vợ chồng như chị L trình bày là đúng. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, hai bên cũng không còn tình cảm với nhau nữa.

Anh Q đồng ý với yêu cầu của chị L, đề nghị giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

Về con chung: Anh Q xác định lời trình bày của chị L về việc vợ chồng có 01 con chung là đúng; anh đồng ý với quan điểm của chị L về nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, HĐXX, thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của quy định về án phí và lệ phí Tòa án

- Cho chị L và anh Q được ly hôn.

- Về con chung: Giao cháu Đỗ Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 24/4/2024, cho chị L nuôi dưỡng; anh Q không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị L.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không đề nghị HĐXX giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị L khởi kiện anh Q, yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con. Bị đơn cư trú tại xã Nguyệt Đức, tỉnh Phú Thọ. Theo các quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ.

Chị L và anh Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt (chị L có người đại diện tham gia phiên tòa). Do vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị L và anh Q là tiến bộ, hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn với nhau, các bên đã có thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 01 con chung cùng nhau. Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày đã phát sinh những bất hòa mâu thuẫn mà nguyên nhân một phần do trong cuộc sống hôn nhân, các bên không hiểu nhau, không chia sẻ với nhau những khó khăn trong cuộc sống; bất đồng quan điểm dẫn đến mâu thuẫn kéo dài và hiện đã sống ly thân. Cả hai bên đều xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn.

Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, các bên đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng. Việc vợ chồng xin ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 24/4/2024; hiện đang sống cùng chị L. Ly hôn, các bên thỏa thuận để chị L trực tiếp nuôi con, anh Q không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị L.

Xét thỏa thuận của đương sự: Hiện cháu Trang còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ là chị L; chị L có công việc, có thu nhập và đủ điều kiện nuôi con. Nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Giao con chung cho chị L nuôi dưỡng; anh Q không phải đóng góp nuôi con cùng chị L.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do các bên đương sự thỏa thuận được về việc ly hôn nên án phí phải chịu là 150.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Đỗ Văn Q.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Đỗ Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 24/4/2024 (hiện cháu đang sinh sống cùng chị L); anh Đỗ Văn Q không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị L.

Vì quyền lợi của con chung, sau khi ly hôn, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức đóng góp nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định, không ai được cản trở.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: các bên không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 150.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0005681 ngày 21/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Trả lại cho chị L 150.000 đồng.

5. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ