vanban.org

Bản án 27/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo TVPC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo TVPC 01 ( một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/8/2024. Xử lý vật chứng:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Vĩnh Phú Cường - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo TVPC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày: 09/4/2025
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Vĩ Bửu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Hòa.

2. Ông Trần Nghiệp Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

TVPC - Sinh ngày xx/yy/1980; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Đồng Nai; đăng ký thường trú và chỗ ở: xx đường yy, Phường 7 (Phường 4 cũ), Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông TVK và bà NTKT; vợ: DTNN; con: TĐH.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11 (bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 30/8/2024, Công an Phường 7 (Phường 4 cũ), Quận 11 mời bị cáo TVPC về trụ sở làm việc, xét nghiệmC dương tính chất ma túy loại Methamphetamine. Bị cáoC khai còn có dụng cụ và ma túy để ở nhà số 56 Tân Khai, Phường 7, Quận 11. Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 30/8/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 11 phối hợp cùng Công an Phường 7, Quận 11 khám xét khẩn cấp nơi ở củaC tại nhà số 56 Tân Khai, Phường 7 (Phường 4 cũ), Quận 11, phát hiện 01 quẹt gas, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong ống thủy tinh đầu phễu tròn có chứa ma túy nên đưaC cùng vật chứng về trụ sở Công an Phường 7 (Phường 4 cũ), Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 10281/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: “01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên TVPC và hình dấu Công an Phường 4, Quận 11, bên trong có 01 ống thủy tinh có đầu tròn chứa tinh thể cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1803gam loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, TVPC khai nhận: Vào ngày 26/8/2024,C sử dụng xe mô tô (không nhớ biển số) của Hằng Ni (không rõ lai lịch, bạn củaC, sử dụng số điện thoại 0708553778) đến khu vực đối diện địa chỉ: 1-3 Đường số 2, khu dân cư Bình Đăng, Phường 6, Quận 8 mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng của người phụ nữ tên Dương (không rõ lai lịch). Sau đó,C đem ma túy về nhà củaC tại địa chỉ: 56 Tân Khai, Phường 7 (Phường 4 cũ), Quận 11,C cho hết ma túy vào ống thủy tinh đầu phễu tròn gắn lên chai nhựa có ống hút nhựa để sử dụng ma túy cùng với Hằng Ni (dụng cụ và ma túy là củaC). Số ma túy còn lại trong ống thủy tinh bị Công an phát hiện thu giữ vào ngày 30/8/2024. Đối với Hằng Ni sau khi sử dụng ma túy xong thì bỏ đi cùng xe mô tô trước ngày 30/8/2024,C không biết Hằng Ni đang ở đâu, nên chưa đủ căn cứ để xử lýC về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Lời khai nhận củaC phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng, đồ vật Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1335/LNK-ĐCSMT ngày 21/10/2024, gồm:

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 3146/24 có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ Đội cảnh sát điều tra tội về ma túy, chứa ma túy còn lại sau giám định.

- 01 chai nhựa trên nắp có gắn một đoạn ống hút nhựa; 01 quẹt gas, là các dụng cụC sử dụng ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân củaC không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSQ11 ngày 13 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố bị cáo TVPC về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáoC thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo như sau:

Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo TVPC từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân Quận 11 đề nghị xử lý vật chứng như sau:

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi vụ số 3146/24 chứa ma túy còn lại sau giám định.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 chai nhựa trên nắp có gắn một đoạn ống hút nhựa; 01 quẹt gas, là các dụng cụ của bị cáo dùng để sử dụng ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ xác định có tội:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 30/8/2024, tại địa chỉ: 56 Tân Khai, Phường 7 (Phường 4 cũ), Quận 11, bị cáo TVPC có hành vi tàng trữ 0,1803gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Căn cứ vào các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo TVPC đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội và sức khỏe con người, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng Hằng Ni, bị cáoC không biết Hằng Ni đang ở đâu. Ngoài lời khai nhận của bị cáoC, không có chứng cứ nào khác xác định bị cáo tổ chức cho Hằng Ni sử dụng ma túy nên chưa đủ căn cứ để xử lý bị cáoC về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục truy tìm Hằng Ni, khi nào có căn cứ sẽ xử lý hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của bị cáoC sau.

Đối với đối tượng tên Dương đã bán ma túy cho bị cáoC, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi vụ số 3146/24 chứa ma túy còn lại sau giám định.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 chai nhựa trên nắp có gắn một đoạn ống hút nhựa; 01 quẹt gas, là các dụng cụ của bị cáo dùng để sử dụng ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.

[2] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo TVPC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo TVPC 01 ( một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/8/2024.

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi vụ số 3146/24 chứa ma túy còn lại sau giám định.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 chai nhựa trên nắp có gắn một đoạn ống hút nhựa; 01 quẹt gas, là các dụng cụ của bị cáo dùng để sử dụng ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1335/LNK-ĐCSMT ngày 21/10/2024 của Công an Quận 11).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo TVPC chịu án phí là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ