- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngày 27/11/2025 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2025/HS-ST. Ngày 27/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG.
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Bích
2. Ông Hoàng Văn Bốn
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vi Thị Luyến – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Nhữ Hồng Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang, mở phiên toà sơ thẩm xét xử theo hình thức trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS, ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Hữu Q; sinh ngày 25/12/1985;
Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn Đo, xã B, tỉnh Tuyên Quang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Đinh Hữu Đ, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ 04; Vợ: Chu Thị H, sinh năm 1989; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011;
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2025 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Tuyên Quang.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 31/7/2025, Đinh Hữu Q sinh ngày 25/12/1985, trú tại thôn Đo, xã B, tỉnh Tuyên Quang một mình đi bộ từ nhà đến khu vực ngã 3 Bợ thuộc thôn Chợ Bợ 2, xã B để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây Q gặp một người đàn ông không quen biết, có dáng vẻ như người nghiện ma túy. Q hỏi và mua được của người đàn ông này hai gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa ma túy với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Mua được ma túy, Q đi về nhà và lấy một ít ma tuý ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số ma túy còn lại Q gói lại như cũ, cất giấu vào túi quần bên trái phía trước đang mặc trên người. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Q đi bộ đi làm, khi đi đến khu vực đường nhựa liên thôn thuộc thôn Đo, xã B thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang phối hợp Công an , tỉnh Tuyên Quang và Công an xã B đang làm nhiệm vụ, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ tang vật. Q khai nhận việc tàng trữ số ma túy trên mục đích để sử dụng.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Đinh Hữu Q ngày 31/7/2025, kết quả: (+) Dương tính với chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 908/KL-KTHS ngày 04/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Đinh Hữu Q là chất ma túy; loại Heroine (Heroin); khối lượng 0,212g (không phẩy hai một hai gam).
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSKV2, ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố Đinh Hữu Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khi khai báo về hành vi phạm tội của mình. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đinh Hữu Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ: “CÔNG AN TỈNH TUYÊN QUANG – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - ĐỘI GIÁM ĐỊNH. Tang vật vụ: Đinh Hữu Q giám định ngày 31/7/2025", mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia và 03 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và tái hoà nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ kết luận giám định, vật chứng thu giữ được, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 31/7/2025, tại khu vực đường nhựa liên thôn thuộc thôn Đo, xã B, tỉnh Tuyên Quang, Đinh Hữu Q, sinh ngày 25/12/1985, trú tại thôn Đo, xã B đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,212g (không phẩy hai một hai gam), mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ 0,212 gam ma tuý để sử dụng mà bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan.
Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện xâm phạm trực tiếp đến các quy định về độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân và có thể là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ, sử dụng ma túy là hành vi trái pháp luật, bị nghiêm cấm. Nhưng để thoả mãn cơn nghiện ma tuý của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn trong khai báo, thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ: “CÔNG AN TỈNH TUYÊN QUANG – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - ĐỘI GIÁM ĐỊNH. Tang vật vụ: Đinh Hữu Q giám định ngày 31/7/2025", mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia và 03 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa số ma tuý đã thu giữ cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định;
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo.
Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị can ngày 31/7/2025, Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xem xét, xử lý trong vụ án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Hữu Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Hữu Q 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 31/7/2025.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ: “CÔNG AN TỈNH TUYÊN QUANG – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - ĐỘI GIÁM ĐỊNH. Tang vật vụ: Đinh Hữu Q giám định ngày 31/7/2025", mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia và 03 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa số ma tuý đã thu giữ còn lại sau giám định;
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Tuyên Quang ngày 03/11/2025).
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đinh Hữu Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - VKSND KV2-Tuyên Quang; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - Thi hành án hình sự; - UBND xã B; - Bị cáo; - Lưu HS. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phan Thị Bích – Đàm Thị Kim Duyên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thanh Huyền THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Huyền |