- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 27 Điêu Chính T Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Điêu Chính T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày 17-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Mầng và ông Lò Minh Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Bà Lường Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Điêu Chính T, sinh ngày 10/10/1974, tại phường CA, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản TQ, phường CA, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Điêu Chính T, (đã chết) và con bà Lò Thị C, sinh năm 1946. Bị cáo có vợ là Lường Thị V, sinh năm 1973 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/9/2006 bị Tòa án nhân dân huyện QN, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích; Ngày 01/10/2008 bị Tòa án nhân dân huyện QN, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2025; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 11/8/2025, tại khu vực tổ 4, phường CA, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an phường CA, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Điêu Chính T đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 01 viên nén màu hồng hình tròn và các cục bột màu trắng, Điêu Chính T khai nhận là Heroine và Methamphetamine vừa mua để sử dụng.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 01 viên nén màu hồng hình tròn và các cục bột màu trắng nghi là Heroine và Methamphetamine.
Cùng ngày Công an phường CA, tỉnh Sơn La tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Điêu Chính T ở bản TQ, phường CA, tỉnh Sơn La. Kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 11/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ khi bắt quả tang. Kết quả: chất bột màu trắng có khối lượng 0,38 gam, lấy hết 0,38 gam làm mẫu giám định ký hiệu T1; 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,09 gam, lấy hết 0,09 gam làm mẫu giám định ký hiệu T2. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra quyết định trưng cầu giám định số 3415.
Tại Kết luận giám định số 980 ngày 15/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: Mẫu gửi giám định T1 là chất ma túy, loại Heroine; Mẫu gửi giám định T2 là chất ma túy, loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gử i giám đi ̣nh là T1 = 0,38 gam; T2 = 0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,38 gam loại Heroine và 0,09 gam loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám đi ̣nh các cục bột màu trắng ký hiệu T1 có khối lượng 0,35 gam và các mảnh viên nén màu hồng ký hiệu T2 có khối lượng 0,06 gam nhập kho vật chứng.
Theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hai chất ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ của Điêu Chính T được quy định trong cùng một điểm (điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015) nên tinh chung khối lượnǵ chất ma túy 0,47 (Không phẩy bốn mươi bảy) gam.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Điêu Chính T khai nhận: Ngày 11/8/2025 Điêu Chính T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LONGSHEN màu sơn nâu, biển kiểm soát 26F5-2929 đi từ nhà đến khu vực phường Tô Hiệu, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử du ̣ng thì gă ̣p mô ̣t ngườ i đàn ông không biết tên, tuổi, đi ̣a chi,̉ Điêu Chính T đa hõ ̉i và mua được của ngườ i đàn ông này 01 gói nilon màu trắng bên trong có Heroine và 01 viên Methamphetamine vớ i số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Điêu Chính T cất vào túi quần rồi đi bộ về nhà, khi đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an phường CA, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang.
Đối vớ i người đàn ông theo lờ i khai của Điêu Chính T đã bán ma túy cho Điêu Chính T vào ngày 11/8/2025, Điêu Chính T không biết họ tên, tuổi, địa chi ̉ của những người này, viê ̣c mua bán không ai biết hoă ̣c chứ ng kiến. Ngoài lờ i khai của Điêu Chính T Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không thu thâ ̣p được tài liê ̣u chứ ng cứ khác nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Điêu Chính T có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy, tuy nhiên Điêu Chính T không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Do đó không khởi tố, truy tố, xét xử Điêu Chính T về tội danh trên.
Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKSKV1 ngày 24/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Sơn La truy tố bị cáo Điêu Chính T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Điêu Chính T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Điêu Chính T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt Điêu Chính T từ 40 tháng đến 46 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng, mẫu giám định ký hiệu T1 = 0,35 gam, T2 = 0,06 gam.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu LONGSHEN màu nâu, biển kiểm soát 26F5-2929, số máy ZS150FMG-222201759, không có số khung; xe không có vỏ nắp hộp xích, xe đã qua sử dụng.
Trả lại bị cáo Điêu Chính T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3x, màu xanh, số IMEI 1: 863199071048918, số IMEI 2: 86319971048900 kèm 01 sim có số thuê bao 0374707340 đã qua sử dụng.
Về án phi: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;́ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghi ̣ buô ̣c bi ̣ cáo phải chi ̣u tiền án phí sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luâ ̣n.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Sơn La; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Điêu Chính T thừa nhận: Ngày 11/8/2025 Điêu Chính T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,38 gam Heroine và 0,09 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường CA, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người chứng kiến.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Điêu Chính T đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 0,38 gam Heroine và 0,09 gam Methamphetamine của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo.
Về nhân thân: Ngày 29/9/2006 bị Tòa án nhân dân huyện qn, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích; Ngày 01/10/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích. Do đó bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nhân thân xấu.
Về hình phạt
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.
Điêu Chính T có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy, tuy nhiên Điêu Chính T không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Do đó không khởi tố, truy tố, xét xử Điêu Chính T về tội danh trên.
Về vật chứng của vụ án:
01 mảnh nilon màu trắng, mẫu giám định ký hiệu T1 = 0,35 gam, T2 = 0,06 gam. Là vâ ̣t thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
01 xe mô tô nhãn hiệu LONGSHEN màu nâu, biển kiểm soát 26F5-2929, số máy ZS150FMG-222201759, không có số khung; xe không có vỏ nắp hộp xích, xe đã qua sử dụng. Là phương tiện bị cáo dùng thực hiện tội phạm, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3x, màu xanh, số IMEI 1: 863199071048918, số IMEI 2: 86319971048900 kèm 01 sim có số thuê bao 0374707340 đã qua sử dụng. Là tài sản của bị cáo Điêu Chính T, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại bị cáo Điêu Chính T.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025:
Tuyên bố: bị cáo Điêu Chính T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Điêu Chính T 40 (Bốn mươi) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 11/8/2025).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng, mẫu giám định ký hiệu T1 = 0,35 gam, T2 = 0,06 gam.
Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu LONGSHEN màu nâu, biển kiểm soát 26F5-2929, số máy ZS150FMG-222201759, không có số khung; xe không có vỏ nắp hộp xích, xe đã qua sử dụng.
Tuyên trả lại bị cáo Điêu Chính T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3x, màu xanh, số IMEI 1: 863199071048918, số IMEI 2: 86319971048900 kèm 01 sim có số thuê bao 0374707340 đã qua sử dụng.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 17/12/2025.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 1 – Sơn La (2); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Trại giam CA tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - THADS tỉnh Sơn La; - THA hình sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà |