vanban.org

Bản án 27/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ Tuyên án 23/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Hậu - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày 23-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Hoàng Bá

Bà Đoàn Sơn Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Y - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Đoàn Văn H; sinh ngày 01/01/1990; Nơi sinh: V, V, Cần Thơ; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Đoàn Văn Â, không xác định năm sinh; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1967; A, chị em ruột: Có 02 người, sinh năm 1984 và sinh năm 1989; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2025 cho đến nay. (Bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 17/01/2025, sau khi tiếp nhận nguồn tin tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện V kết hợp với Công an xã V tiến hành khám xét khẩn cấp người, phương tiện đối với Đoàn Văn H tại ấp V, xã V. Qua khám xét đã phát hiện thu giữ: 03 gói nilon không màu nẹp miệng bên trong mỗi gói nilon chứa tinh thể không màu (nghi vấn là ma túy), 01 xe mô tô biển số 65FH – 1244 đồng thời mời H về Cơ quan điều tra để làm rõ.

Bị cáo H thừa nhận: Khoảng 21 giờ, ngày 17/01/2025 trên đường điều khiển xe mô tô về nhà, do muốn sử dụng ma túy nên H đã chạy vào kênh 8 thuộc ấp V, xã V gặp một người phụ nữ khoảng 50 tuổi hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, sau đó H cầm trên tay trái rồi điều khiển xe về, trên đường đi thì bị Công an khám xét thu giữ 03 gói ma túy. Ngoài ra H còn thừa nhận bản thân sử dụng ma túy được khoảng 10 năm, đã đến kênh 8 mua ma túy của người phụ nữ được 01 lần thì bị phát hiện.

Căn cứ vào Kết luận giám định số 90/KL-KTHS, ngày 23/01/2025 của Phòng K1, Công an thành phố C, kết luận: Tinh thể không màu trong 03 gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,2133 gam.

Vật chứng có liên quan Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSVT ngày 18/3/2025 và tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đề nghị áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đoàn Văn H mức án từ 1 năm 06 tháng đến 2 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định và không có thu nhập.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1863 gam và vỏ bao gói được niêm phong số 90/KL-KTHS ngày 23/01/2025, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an thành phố C và chữ ký cán bộ niêm phong ghi tên Trần Nguyễn Anh D thuộc Công an huyện V, thành phố Cần Thơ, chữ ký người chứng kiến ghi tên Đặng Thúy H1.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tôi hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định vào 21 giờ, ngày 17/01/2025 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,2133 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi tàng trữ của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng của bị cáo gây tác hại trước hết cho chính bị cáo, sau đó là gia đình bị cáo và xã hội. Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, tiêu hao tiền bạc của bản thân người nghiện và gia đình, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ma túy là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển và mua bán về các chất ma túy, tác hại của ma túy từ lâu được tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn bất chấp vi phạm pháp luật. Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục giúp bị cáo thay đổi nhận thức sống, biết đặt mình trong khuôn khổ pháp luật và qua hình phạt cũng để răn đen, trấn áp tội phạm tương tự.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1863 gam và vỏ bao gói được niêm phong số 90/KL-KTHS ngày 23/01/2025, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an thành phố C và chữ ký cán bộ niêm phong ghi tên Trần Nguyễn Anh D thuộc Công an huyện V, thành phố Cần Thơ, chữ ký người chứng kiến ghi tên Đặng Thúy H1.

- Đối với xe mô tô biển số 65FH – 1244 qua xác minh là tài sản của ông Nguyễn Phước H2 mua lại xe của của người khác nhưng chưa sang tên, ông cho H mượn làm phương tiện đi lại, không biết việc H sử dụng xe đi mua ma túy nên xin được nhận lại xe, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 65FH – 1244 cho ông H2 là phù hợp.

Đối với người bán ma túy cho H, Cơ quan điều tra tiến hành cho nhận dạng, đối chất xác định có họ tên thật là Mai Ngọc K - sinh năm 1970, thường trú tại: ấp V, xã V. Qua làm việc K thừa nhận đã bán ma túy cho H với số tiền 300.000 đồng và bán cho nhiều người khác không rõ họ tên địa chỉ nên Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Mai Ngọc K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để tiếp tục điều tra làm rõ trong một vụ án khác.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Văn H có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ông Phạm Văn Đ, bà Nguyễn Thị Bích T có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng:

- Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

- Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2025.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1863 gam và vỏ bao gói được niêm phong số 90/KL-KTHS ngày 23/01/2025, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an thành phố C và chữ ký cán bộ niêm phong ghi tên Trần Nguyễn Anh D thuộc Công an huyện V, thành phố Cần Thơ, chữ ký người chứng kiến ghi tên Đặng Thúy H1.

(Vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh theo Quyết định chuyển vật chứng số:29/QĐ-VKSVT ngày 18/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ).

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ