vanban.org

Bản án 27/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 19/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về các biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 2062/KL-KTHS ngày 19/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh S - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày 19 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc T

Ông Hoài Đức H

- Thư ký Tòa án: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: ông Trần Huỳnh Đức Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thanh S (tên gọi khác: Chú H), sinh năm 2000 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P và bà Phan Thị Kiều C; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 13/10/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ ngày 13/10/2024, Lê Thanh S thuê xe ôm đi đến khu vực xã P, huyện N gặp một người tên V (chưa rõ lai lịch) mua 01 tép ma túy (loại Methamphetamine) với giá 500.000 đồng. Mua ma túy xong, S đi về nhà tại ấp P, xã P, huyện N rồi lấy một ít ma túy ra sử dụng. Đến 12 giờ ngày 13/10/2024, có một người tên C1 (chưa rõ lai lịch) gọi điện thoại cho S hỏi mua 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng, S đồng ý và hẹn Chánh đến đường hẻm dân sinh thuộc ấp P, xã P, huyện N để lấy ma túy. Đến 13 giờ cùng ngày, S lấy tép ma túy còn lại sau khi sử dụng rồi đi bộ đến điểm hẹn giao ma túy cho C1. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp P, xã P, huyện N thì bị lực lượng tổ tuần tra công an huyện N kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay của S có 01 đoạn ống hút có chứa ma túy nên đã lập biên bản phạm tội quả tang.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

- 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín 02 đầu, kích thước 1cmx2cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng.

- 01 điện thoại di động Vivo màu xanh.

Tại Bản Kết luận giám định số 2062/KL-KTHS, ngày 19/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1641 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1298 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên. Tại bản cáo trạng số: 13/CT.VKS ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lê Thanh S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt Lê Thanh S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về các biện pháp tư pháp, áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (được niêm phong số 2062/KL-KTHS ngày 19/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ).

- Tịch thu sung công quỹ nhà Nước: 01 điện thoại di động Vivo màu xanh của Lê Thanh S sử dụng vào việc phạm tội.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo S khai nhận: Vào lúc 13 giờ ngày 13/10/2024, Lê Thanh S mang 01 tép ma túy có khối lượng 0,1641 gam, loại Methamphetamine đến khu vực đoạn đường P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai để bán cho một người tên C1 (chưa rõ lai lịch) thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang. Kết quả giám định hàm lượng ma túy mà S mua bán có khối lượng là 0,1641 gam. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Thanh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật .

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Theo kết luận giám định số ma túy thu giữ của bị cáo là loại Methamphetamine có trọng lượng là 0,1641 gam. Mục đích bị cáo mua ma túy về để sử dụng và bán lại cho các con nghiện khác để kiếm lời. Bị cáo biết việc sử dụng ma túy và mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy và muốn có tiền để tiêu xài cá nhân và sử dụng ma túy nên vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội, cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Hiện nay tệ nạn này diễn ra hết sức phức tạp, lôi kéo nhiều người vào con đường nghiện ngập là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho S, hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục làm rõ, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Về các biện pháp tư pháp: 01 gói niêm phong số 2062/KL-KTHS ngày 19/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động Vivo màu xanh của Lê Thanh S sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, xử lý vật chứng và đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh S (tên gọi khác: Chú H) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024.

3. Về các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 2062/KL-KTHS ngày 19/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Vivo màu xanh của Lê Thanh S sử dụng vào việc phạm tội.

Tang vật trên hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2025.

4. Về án phí: Bị cáo Lê Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ