vanban.org

Bản án 27/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái L.

Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ái L được ly hôn ông Nguyễn Mạnh C. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung : Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Ái L - ông Nguyễn Mạnh C: Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỘI AN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17- 3 - 2025
V/v "Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhạn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Viết Phúc.

2. Bà Huỳnh Thị Kim Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Vân- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2024/TL.ST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “ Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06.02.2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST- HNGĐ ngày 28.02.2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ái L, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: 225 N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. (Có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1985.

Địa chỉ: tổ 24, khối phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản trình bày, tại các phiên làm việc và tại phiên toà, bà Nguyễn Thị Ái L trình bày: Bà và ông Nguyễn Mạnh C cưới nhau và đăng ký kết hôn vào năm 2008; đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, kết hôn trên tinh thần tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, đỉnh điểm nhất là từ năm 2019 đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, mâu thuẫn ngày càng lớn, bản thân bà cũng không còn tình cảm với chồng, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Giữa bà và ông C không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với chồng là ông Nguyễn Mạnh C để bà ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung: Nguyễn Ngọc Hoàng C, sinh ngày 31/5/2009; Nguyễn Phúc Thiên A, sinh ngày 26/9/2015, sau khi ly hôn bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi cả hai con và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Mạnh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Bị đơn ông Nguyễn Mạnh C chấp hành pháp luật không nghiêm, ông C đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông C. Về nội dung vụ án, nhận thấy việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L; Về con chung, giao cháu Nguyễn Ngọc Hoàng C, Nguyễn Phúc Thiên A cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông C không cấp dưỡng nuôi con. Đương sự phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: bà Nguyễn Thị Ái L khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Mạnh C có nơi cư trú tại phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho ông Nguyễn Mạnh C nhưng ông C đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: bà Nguyễn Thị Ái L và ông Nguyễn Mạnh C kết hôn vào năm 2008 trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H nên hôn nhân của họ là hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2019 vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, luôn cãi vã nhau. Hiện tại vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cả hai đã không còn chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C đã được người thân trong gia đình thông báo về nội dung vụ án, nhưng ông C không trình bày ý kiến, không tham gia các phiên hòa giải, điều này chứng tỏ ông C không có thiện chí hoà giải để gia đình đoàn tụ. Xét thấy, hôn nhân của của bà L, ông C không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái L.

Về con chung: bà L và ông C có 02 con chung: Nguyễn Ngọc Hoàng C, sinh ngày 31/5/2009; Nguyễn Phúc Thiên A, sinh ngày 26/9/2015 hiện đang sống với mẹ, bà L có nguyện vọng nuôi cả hai con và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy hiện tại cháu C, cháu A đều có nguyện vọng ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn, bà L cũng có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng các con nên giao bà L trực tiếp nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống cho các cháu. Về cấp dưỡng nuôi con nguyên đơn bà L không yêu cầu ông C không cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của bà L nên cần chấp nhận.

Về tài sản chung: nguyên đơn trình bày không có tài sản chung và không yêu cầu Toà giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ái L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 36, 39, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái L.

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ái L được ly hôn ông Nguyễn Mạnh C.

2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung :

Nguyễn Ngọc Hoàng C, sinh ngày 31/5/2009; Nguyễn Phúc Thiên A, sinh ngày 26/9/2015

Giao cả hai con cho bà Nguyễn Thị Ái L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Mạnh C không cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về án phí: bà Nguyễn Thị Ái L phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0019174 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Bà L đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn Thị Ái L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/3/2025). Ông Nguyễn Mạnh C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ