- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H yêu câu ly hôn anh P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc H về việc ly hôn đối với anh Đào Lý Hồng P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| - 1 - TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 TỈNH TÂY NINH Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Thành Phương.
2. Ông Trần Văn Cường
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Tây Ninh.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 35/2025/TLST – HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21a/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Ấp 4, xã R, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Đào Lý Hồng P, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Ấp 4, xã R, tỉnh Tây Ninh.
(Các đương sự đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11/7/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc H trình bày: chị và anh P cưới nhau lần đầu vào năm 2008, đăng ký kết hôn ngày 27/12/2008, hôn nhân do vợ chồng tự nguyện tìm hiểu nhau. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời
- 2 -
gian, đến năm 2012 thì mâu thuẫn xảy ra nên chị đã nộp đơn ly hôn với anh P và đã được Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh P. Sau khi ly hôn, anh P nhiều lần năn nỉ xin lỗi chị, xin chị cho cơ hội để hàn gắn nuôi con nên chị đã về chung sống lại với anh P và tiến hành đăng ký kết hôn vào ngày 06/10/2015 tại UBND xã Th, huyện C, tỉnh Long An (nay là UBND xã M, tỉnh Tây Ninh). Tuy nhiên từ khi về chung sống thì anh P vẫn không thay đổi, thường xuyên nhậu say, không phụ chị về kinh tế để nuôi con và còn có hành vi bạo lực với chị. Dù chị nhiều lần góp ý nhưng anh P ngày càng đối xử với chị tệ hơn nên chị đã dọn ra ngoài ở riêng và ly thân với anh P từ tháng 10 năm 2024 cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn với anh P nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đào Lý Tiến L, sinh ngày 03/11/2008 và Đào Lý Tiến Th, sinh ngày 23/5/2017, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.
Tại bản tự khai ngày 17/9/2025 và các lời khai tại Tòa án, bị đơn anh Đào Lý Hồng P trình bày: về ngày tháng kết hôn, con chung đúng như chị H trình bày. Giữa anh và chị H cũng có xảy ra mâu thuẩn nhưng lúc đó do anh nóng tính, không làm chủ được bản thân. Anh khẳng định anh còn thương chị H, mong muốn cho cơ hội để vợ chồng cùng đoàn tụ lo cho cho con. Đối với con chung và tài sản chung của vợ chồng anh không có ý kiến. Vợ chồng không có nợ chung.
Taị phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc H trình bày: chị vẫn giữ yêu cầu ly hôn với anh P vì mâu thuẫn giữa chị và anh P đã xảy ra trong thời gian dài, chị cũng đã cố gắng chịu đựng để gìn giữ gia đình nhưng mâu thuẫn ngày càng lớn nên nay chị xác định không thể tiếp tục chung sống với anh P. Hiện tại chị không còn tình cảm với anh P và không thể tiếp tục chịu đựng những hành vi bạo lực mà trước đây anh P đã đối xử với chị nên chị không chấp nhận việc anh P yêu cầu cho thời gian để vợ chồng hàn gắn.
- Bị đơn anh Đào Lý Hồng P trình bày: anh không đồng ý ly hôn với chị H vì anh còn tình cảm với chị H. Anh khẳng định anh rất thương vợ, thương con, khi mâu thuẫn xảy ra là do cả anh và chị H đều nóng tính. Việc vợ chồng ly hôn sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của các con nên anh yêu cầu cho anh thêm thời gian để anh thuyết phục chị H đoàn tụ lại với anh.
- 3 -
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Trần Thị Ngọc H và anh Đào Lý Hồng P có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân xã Thuận Thành, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (nay là xã Mỹ Lộc, tỉnh Tây Ninh) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73/2015 vào ngày 06/10/2015 nên hôn nhân là hợp pháp.
[1.2] Anh Đào Lý Hồng P là bị đơn, hiện nay đang cư trú tại Ấp 4, xã R, tỉnh Tây Ninh nên khi chị H có đơn khởi kiện ly hôn Tòa án nhân dân khu vực 6 – Tây Ninh căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Về nội dung tranh chấp:
Chị H và anh P cưới nhau vào năm 2008, chung sống với nhau đến năm 2012 thì ly hôn, đến năm 2015 chị H và anh P đoàn tụ lại với nhau nên tiếp tục chung sống và đăng ký kết hôn lại với nhau. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống với nhau thì cả hai lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh P. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H trình bày do trong cuộc sống vợ chồng chị H không nhận được sự quan tâm, chăm sóc từ anh P làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt và không còn khả năng hàn gắn nên đã ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay. Đối với anh P thì cho rằng vợ chồng vẫn thương yêu nhau, chỉ lúc nóng giận anh không kìm chế được bản thân mới có xử sự không đúng với chị H. Anh P không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị H xác định không thể tiếp tục chung sống với anh P, kiên quyết yêu cầu được ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù anh P luôn trình bày vợ chồng không mâu thuẫn, anh P không đồng ý ly hôn vì rất thương chị H nhưng trong thời gian Tòa án giải quyết anh P không thuyết phục được chị H đoàn tụ và cũng không đưa ra được giải pháp nào để hàn gắn. Chị H xác định không còn tình cảm với anh P, trong thời gian sống chung anh P đối xử không tốt với chị, đã nhiều lần chị cho anh P cơ hội nhưng anh P vẫn không thay đổi nên chị kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh P. Từ đó cho thấy giữa chị H và anh P đã phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
- 4 -
không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh P.
Về nuôi con chung và cấp dưỡng:
Giữa chị H và anh P có 02 con chung tên Đào Lý Tiến L, sinh ngày 03/11/2008 và Đào Lý Tiến Th, sinh ngày 23/5/2017 hiện đang sống với chị H. Xét thấy hiện 02 con chung đang sống với chị H đã ổn định, hai con cũng có nguyện vọng muốn sống với chị H, nên chị H yêu cầu được tiếp tục được nuôi con chung là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc yêu cầu trực tiếp nuôi con chung. Anh P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc thăm nom chăm sóc con được thực hiện theo điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị H, anh P đều trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung không có nên không xét.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình để sung công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc H về việc ly hôn đối với anh Đào Lý Hồng P.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh Đào Lý Hồng P.
- 5 -
Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: chị H được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung tên Đào Lý Tiến L, sinh ngày 03/11/2008 và Đào Lý Tiến Th, sinh ngày 23/5/2017, anh P không phải cấp dưỡng nuôi 02 con.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 84, Điều 85, Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001289 ngày 21/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, chị H đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 6 – Tây Ninh; - THADS tỉnh Tây Ninh; - UBND xã M, tỉnh Tây Ninh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thùy Trang |