- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỹ P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18/3/2025. V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Thị Xà Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 291/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2024, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ P - sinh ngày 03/11/2004, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Bá N - sinh ngày 28/7/2000, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2024, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ P như sau:
Vào năm 2012, bà và ông Huỳnh Bá N sống chung với nhau nhưng không tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 26/9/2023.
Vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi xuất phát từ việc ông Huỳnh Bá N không quan tâm vợ con, không lo làm ăn, thường xuyên chơi ma túy hai bên gia đình khuyên can nhiều lần nhưng ông N không thay đổi. Từ tháng 08/2024, vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm với ông Huỳnh Bá N nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Bá N.
Thời gian chung sống vợ chồng bà có 01 người con chung tên Huỳnh Ngọc Gia H – sinh ngày 22/7/2023, hiện nay bà đang nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau khi vợ chồng bà ly hôn mà có người kiện vợ chồng bà đòi nợ chung thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trả nợ chung theo quy định của pháp luật.
Nguyện vọng:
Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Huỳnh Bá N.
Về con chung: Bà xin nuôi con chung tên Huỳnh Ngọc Gia H – sinh ngày 22/7/2023 và không yêu cầu ông Huỳnh Bá N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Huỳnh Bá N đã được Tòa án niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Huỳnh Bá N không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Huỳnh Bá N.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Huỳnh Thị Mỹ P được ly hôn với ông Huỳnh Bá N. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Huỳnh Ngọc Gia H – sinh ngày 22/7/2023 cho bà Huỳnh Thị Mỹ P nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Huỳnh Thị Mỹ P và ông Huỳnh Bá N là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Huỳnh Bá N là bị đơn trong vụ án, ông Huỳnh Bá N có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Huỳnh Bá N vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Huỳnh Bá N vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Huỳnh Bá N.
Bà Huỳnh Thị Mỹ P có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Huỳnh Thị Mỹ P không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị Mỹ P.
Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Mỹ P và ông Huỳnh Bá N sống chung vào năm 2023, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 144/2023, ngày 26/9/2023, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Huỳnh Thị Mỹ P và ông Huỳnh Bá N là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Huỳnh Thị Mỹ P và ông Huỳnh Bá N là hôn nhân tự nguyện nhưng chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau nên trong quá trình sống chung đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Huỳnh Thị Mỹ P cho rằng vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi xuất phát từ việc ông Huỳnh Bá N không quan tâm vợ con, không lo làm ăn, thường xuyên chơi ma túy hai bên gia đình khuyên can nhiều lần nhưng ông N không thay đổi. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân bà và ông Huỳnh Bá N vẫn còn liên lạc với nhau. Ngày 09/01/2025 và ngày 07/02/2025, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Huỳnh Bá N vắng mặt và bà Huỳnh Thị Mỹ P cương quyết ly hôn với ông Huỳnh Bá N. Xét thấy, vợ chồng bà Huỳnh Thị Mỹ P và ông Huỳnh Bá N đã sống ly thân với nhau hơn 06 tháng, trong thời gian này, ông Huỳnh Bá N và bà Huỳnh Thị Mỹ P không tìm được tiếng nói chung để hàn gắn hôn nhân, khi Tòa án mời ông Huỳnh Bá N đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì ông Huỳnh Bá N không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Huỳnh Thị Mỹ P cương quyết xin ly hôn với ông Huỳnh Bá N và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Huỳnh Bá N, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Mỹ P.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị Mỹ P và ông Huỳnh Bá N có 01 người con chung tên Huỳnh Ngọc Gia H – sinh ngày 22/7/2023, hiện nay bà Huỳnh Thị Mỹ P đang nuôi dưỡng.
Ông Huỳnh Bá N không nuôi con và không có ý kiến về quyền nuôi. Bà Huỳnh Thị Mỹ P yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Ngọc Gia H – sinh ngày 22/7/2023. Hiện cháu Gia H chưa tròn 36 tháng tuổi, từ khi vợ chồng bà P và ông N ly thân, bà P là người nuôi cháu Gia H nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ P.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị Mỹ P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Mỹ P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Huỳnh Thị Mỹ P phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0010028, ngày 21/11/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỹ P.
Về hôn nhân: Xử cho bà Huỳnh Thị Mỹ P ly hôn với ông Huỳnh Bá N.
Về con chung: Giao cháu Huỳnh Ngọc Gia H – sinh ngày 22/7/2023 cho bà Huỳnh Thị Mỹ P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ông Huỳnh Bá N không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng ông N được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông thực hiện quyền này.
Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Mỹ P phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0010028, ngày 21/11/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKS Gò Quao; -Chi cục THA; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |