- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Minh V - Lê Văn C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh V đối với anh Lê Văn C. Chị Nguyễn Thị Minh V được ly hôn với anh Lê Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-9-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1-Bà Nguyễn Thị Hạnh
2-Ông Bá Đình Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Đa Văn Thắng-Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13
- Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Dung-Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025, về việc: "Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04/9/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh V, sinh năm 1981 (Vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1977 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn Th, xã H, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn-chị Nguyễn Thị Minh V trình bày: Sau thời gian tìm hiểu yêu thương nhau, Chị và anh Lê Văn C xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 02/12/20028 tại Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Lâm Đồng. Thời gian đầu sau khi lấy nhau, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có chung với nhau 3 đứa con tên Lê Nguyễn T (sinh ngày 01/7/2017), Lê V H (sinh ngày 13/8/2000) và Lê Văn Ph (sinh ngày 15/5/2005). Nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Lê Văn C thường xuyên chửi bới, đánh đập chị, không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con, nhiều lần chị đã cố gắng cam chịu vì con nhưng ông Lê Văn C vẫn không thay đổi. Từ đó, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên vợ chồng đã sống ly thân khoảng từ năm 2022 cho đến nay.
Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Nguyễn Thị Minh V làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn C.
- Về con chung: Yêu cầu được nuôi con chung tên Lê Nguyễn T (sinh ngày 01/7/2017) cho đến khi con trưởng thành và không yêu cầu anh Lê Văn C cấp dưỡng nuôi con. Các con chung tên Lê Văn H (sinh năm 2000), Lê Văn Ph (sinh năm 2005) đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn-anh Lê Văn C: Tòa án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập đến Tòa án để làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Lê Văn C không đến, nên Tòa án không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên t a Ki m sát viên phát bi u:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
+ Về hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Minh V được ly hôn với anh Lê Văn C.
+ Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn T (sinh ngày 01/7/2017) cho chị Nguyễn Thị Minh V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến 18 tuổi, chị Nguyễn Thị Minh V không yêu cầu anh Lê Văn C cấp dưỡng nuôi con. Anh Lê Văn C được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Các con chung tên Lê Văn H (sinh năm 2000), Lê Văn Ph (sinh năm 2005) đã trưởng thành, chị Nguyễn Thị Minh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
+ Về tài sản và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Tại đơn khởi kiện, chị Nguyễn Thị Minh V yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn C và yêu cầu nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi cư trú tại xã H, tỉnh Lâm Đồng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh V vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn C. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Minh V, anh Lê Văn C đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, cụ thể: Trong quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Thị Minh V, anh Lê Văn C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vả, anh Lê Văn C thường xuyên chửi bới, đánh đập chị Nguyễn Thị Minh V, không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con, nhiều lần chị Nguyễn Thị Minh V đã cố gắng cam chịu vì con nhưng ông Lê Văn C vẫn không thay đổi. Từ đó, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên vợ chồng đã sống ly thân khoảng từ năm 2022 cho đến nay. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Lê Văn C đến Tòa làm việc nhưng anh Lê Văn C không đến. Điều này, chứng tỏ chị Nguyễn Thị Minh V, anh Lê Văn C không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn thiết tha với cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh V đối với anh Lê Văn C, như ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Từ khi vợ chồng chị Nguyễn Thị Minh V, anh Lê Văn C xảy ra mâu thuẫn cho đến nay, chị Nguyễn Thị Minh V là người trực tiếp nuôi con, chị Nguyễn Thị Minh V luôn thực hiện tốt vai trò của một người mẹ là đảm bảo cho con có cuộc sống bình thường về thể chất c ng như về mặt tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc với con của chị Nguyễn Thị Minh V, anh Lê Văn C là cháu Lê Nguyễn T, cháu Lê Nguyễn T có nguyện vọng là trong trường hợp chị Nguyễn Thị Minh V, anh Lê Văn C ly hôn, thì cháu Lê Nguyễn T vẫn mong muốn được tiếp tục sống với chị Nguyễn Thị Minh V. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao cháu Lê Nguyễn Tcho chị Nguyễn Thị Minh V tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Đối với các con chung tên Lê Văn H (sinh năm 2000), Lê Văn Ph (sinh năm 2005) đã trưởng thành, chị Nguyễn Thị Minh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do chị Nguyễn Thị Minh V không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh V đối với anh Lê Văn C. Chị Nguyễn Thị Minh V được ly hôn với anh Lê Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn T (sinh ngày 01/7/2017) cho chị Nguyễn Thị Minh V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Anh Lê Văn C có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Các con chung tên Lê Văn H (sinh năm 2000), Lê Văn Ph (sinh năm 2005) đã trưởng thành, chị Nguyễn Thị Minh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do chị Nguyễn Thị Minh V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh V phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009310 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 – Lâm Đồng), chị Nguyễn Thị Minh V đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 13 – Lâm Đồng; - UBND xã Hòa Thắng (Hộ tịch-CNKH số 16, ngày 02/12/2002) - THADS tỉnh Lâm Đồng; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; V.P | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thanh Trúc Tuyền |