vanban.org

Bản án 27/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc N.

Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc N được ly hôn với ông Nguyễn Văn C. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2005 ngày 11/7/2005 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: ĐẶNG THỊ NGỌC N; BĐ: PHAN VĂN C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/4/2025
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Xuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Phượng

2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Diễm Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Trong các ngày 11/4/2025 và ngày 25/4/2025, tại Phòng xử án Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 17/02/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/3/2025 và Quyết định hoãn số 58/2025/QĐST-DS ngày 11/4/2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Ngọc N, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ liên hệ: Số F, đường T, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Số A, xã T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Có đơn xin vắng mặt: Bà Đặng Thị Ngọc N.

Vắng mặt không lý do: Ông Nguyễn Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc N trình bày:

Về hôn nhân: Năm 1998, bà Đặng Thị Ngọc N và ông Nguyễn Văn C tổ chức đám cưới. Đến năm 2005, bà và ông C đi đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận số 55/2005 ngày 11/7/2005. Bà N và ông C sống chung hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, do ông C không chấp nhận việc bà N về chăm sóc mẹ ruột, ông C ghen tuông vô cớ dẫn đến có hành vi bạo lực đối với bà N, bà N có báo chính quyền địa phương nhưng không lập văn bản. Đến năm 2010, mâu thuẫn trầm trọng do ông C đỗ xăng định đốt nhà, nhưng được các con ngăn cản nên không xảy ra hậu quả. Sau sự việc, bà N chuyển đi nơi khác sinh sống cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn với ông C.

Về con chung : Bà N và ông C có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 14/6/1999 và Nguyễn Ngọc Trúc N1, sinh ngày 27/01/2007. Con chung đã đủ tuổi trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn C: Ông Nguyễn Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng, được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên làm việc, phiên họp và phiên tòa nhưng ông C vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp văn bản ý kiến cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Bà Đặng Thị Ngọc N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn C cho nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự xác định tranh chấp về hôn nhân và gia đình nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và quan hệ pháp luật là: Tranh chấp ly hôn.

Về thẩm quyền: Bị đơn Nguyễn Văn C đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà N, ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng bà N có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 11/4/2025 và ông C vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà N và ông C theo quy định tại các Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án:

Về hôn nhân:

Năm 2005, bà N và ông C đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận số 55/2005 ngày 11/7/2005, là vợ chồng hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bà N cho rằng trong cuộc sống hôn nhân đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên yêu cầu ly hôn với ông C. Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về mâu thuẫn: Giữa bà N và ông C là có phát sinh mâu thuẫn trong hôn nhân. Bà N cho rằng mâu thuẫn phát sinh từ năm 2009, do ông C không cho bà N về chăm sóc mẹ ruột, ông C hay ghen tuông vô cớ dẫn đến có hành vi bạo lực đối với bà N. Đến năm 2010, ông C đỗ xăng đốt nhà, nhưng các con ngăn cản nên không xảy ra hậu quả. Từ năm 2010 cho đến nay hai bên sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Như vậy, hôn nhân của bà N và ông C đã không đảm bảo được tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”

- Về khả năng hàn gắn: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã hòa giải, động viên để bà N hàn gắn lại tình cảm, đoàn tụ nhưng bà N vẫn cương quyết xin ly hôn. Đối với ông C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng để biết nội dung vụ án nhưng ông C không có mặt theo thông báo và không có văn bản ý kiến thể hiện ý chí hàn gắn tình cảm với bà N. Cho nên, hôn nhân giữa bà N và ông C không giải quyết được mâu thuẫn, không có khả năng hàn gắn tình cảm.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của bà N và ông C đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và thực sự trầm trọng, không còn giữ được tình nghĩa vợ chồng, không có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không thể đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc N đối với ông Nguyễn Văn C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 14/6/1999 và Nguyễn Ngọc Trúc N1, sinh ngày 27/01/2007 đã đủ tuổi trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự nên bà N không cầu Tòa án giải quyết. Ông C không có ý kiến về con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là đảm bảo quyền tự quyết và định đoạt của đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết, ông C không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là đảm bảo quyền tự quyết và định đoạt của đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về án phí: Bà Đặng Thị Ngọc N phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đãn nộp.

Về quyền kháng cáo: Bà N và ông C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 19, 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc N.

1. Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc N được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2005 ngày 11/7/2005 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 14/6/1999 và Nguyễn Ngọc Trúc N1, sinh ngày 27/01/2007 đã đủ tuổi trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự nên Tòa án không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Bà Đặng Thị Ngọc N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005490 ngày 17/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Đặng Thị Ngọc N và ông Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 csủa Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ