vanban.org

Bản án 27/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Võ Thị Thanh H đối với bị đơn anh Lê Thái C.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Thanh H và anh Lê Thái C. Về nuôi con chung: Giao cho chị Võ Thị Thanh H trực tiếp nuôi 03 con chung là Lê Võ Thái P, sinh ngày 26/5/2007, Lê Võ Thái Â, sinh ngày 13/12/2012 và Lê Võ Thái T, sinh ngày 30/10/2015. Chị Võ Thị Thanh H không yêu cầu anh Lê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị H với anh C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Võ Thị Thanh H đối với bị đơn anh Lê Thái C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-3-2025
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Minh Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Hiếu

2. Ông Nguyễn Ngọc Huy

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh Nhật, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2025/TLST–HNGĐ, ngày 03 tháng 01 năm 2025 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thanh H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Anh Lê Thái C, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị Thanh H trình bày: Chị và anh Lê Thái C tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 06/7/2006 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45, quyển số 01. Trong thời gian chung sống, mặc dù có xảy ra mâu thuẫn nhưng không lớn nên cuộc sống vợ chồng cũng hạnh phúc, đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng chị không đồng quan điểm sống, tính cách nên thường xảy ra cãi nhau, bên cạnh đó anh C không có trách nhiệm trong việc chăm lo cho gia đình. Năm 2022 chị đã nộp đơn ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thụ lý vụ án. Nhưng vì thương con nên chị rút đơn ly hôn, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo Quyết định số 102/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2022. Nhưng vợ chồng chị vẫn không giải quyết được mâu thuẫn và sống ly thân đến nay hơn 02 năm. Nay chị thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị ngày càng nghiêm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh C. Về con chung: Chị và anh Lê Thái C có 03 con chung là Lê Võ Thái P, sinh ngày 26/5/2007, Lê Võ Thái Â, sinh ngày 13/12/2012 và Lê Võ Thái T (bị chậm phát triển tâm thần mức độ nặng), sinh ngày 30/10/2015. Hiện 03 con chung đang sống với chị. Chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 03 người con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Thái C đã được Tòa án cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thẩm quyền của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét nguyên đơn chị Võ Thị Thanh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn anh Lê Thái C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh H và anh Lê Thái C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An vào năm 2006, đúng với quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Năm 2022 do quá trình chung sống vợ chồng chị H có nhiều mâu thuẫn nên chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh C nhưng vì thương con nên chị H rút đơn, Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đình chỉ giải quyết vụ án theo Quyết định số 102/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2022. Tuy nhiên, vợ chồng chị H vẫn không giải quyết được mâu thuẫn và không còn sống chung đến nay hơn 02 năm nên nay chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh C. Tòa án thụ lý vụ án và cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải vụ án nhằm tạo điều kiện cho chị H và anh C tìm biện pháp để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng anh C vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Còn chị H kiên quyết ly hôn với anh C. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H đối với anh C.

Nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị Thanh H và anh Lê Thái C có 03 con chung là Lê Võ Thái P, sinh ngày 26/5/2007, Lê Võ Thái Â, sinh ngày 13/12/2012 và Lê Võ Thái T, sinh ngày 30/10/2015. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi 03 con chung, anh C không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu nuôi các con chung của chị H. Xét thấy, 03 con chung (trong đó con chung Lê Võ Thái T bị chậm phát triển tâm thần mức độ nặng) đều đang sống với chị H, được chị H chăm sóc và có cuộc sống ổn định, đồng thời 02 con chung Lê Võ Thái P, Lê Võ Thái  có nguyện vọng muốn được sống với chị H. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cho chị H được quyền trực tiếp nuôi 03 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, do chị H tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày chị và anh C không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn anh C không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.

Án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 các Điều 35, 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Võ Thị Thanh H đối với bị đơn anh Lê Thái C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Thanh H và anh Lê Thái C.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Võ Thị Thanh H trực tiếp nuôi 03 con chung là Lê Võ Thái P, sinh ngày 26/5/2007, Lê Võ Thái Â, sinh ngày 13/12/2012 và Lê Võ Thái T, sinh ngày 30/10/2015. Chị Võ Thị Thanh H không yêu cầu anh Lê Thái C cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Võ Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013879 ngày 30/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An, chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ