- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn V phạm tội - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2024/HSST Ngày: 09/4/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hiểu
Ông Nguyễn Đức Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình kết nối với điểm cầu thành phần tại phòng 102 trụ sở Công an huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Trƣơng Văn V, sinh ngày 08/01/1988. Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn A (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q; vợ là Đặng Thị H (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 21/3/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình quyết định đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 428/QĐ-UBND ngày 21/3/2012. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 03/01/2024 chuyển tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tiền Hải, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
+ Người làm chứng:
- Anh Hà Văn Th, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã G, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1974 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình.
+ Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Trọng Hà - Cán bộ Công an huyện Tiền Hải, hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 18 giờ ngày 24/12/2023 V đi nhờ xe đến khu vực cổng trường Trung học phổ thông Nguyễn Đức Cảnh thuộc địa phận thành phố B gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ 1.200.000 đồng ma túy loại Heroine, người này nhận tiền rồi đưa cho V 06 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, V chia số ma túy đã mua thành 12 gói nhỏ, bên ngoài là giấy trắng có dòng kẻ, bên trong là chất bột màu trắng đục dạng cục. Từ ngày 24 đến ngày 27/12/2023, V đã sử dụng hết 06 gói, còn lại 06 gói V cất giấu vào túi quần bên phải với mục đích khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 28/12/2023 khi V đang đi ở đoạn đường khu vực cổng làng thôn N, xã C thì bị Công an huyện Tiền Hải phát hiện và kiểm tra đưa về Ủy ban nhân dân xã C làm việc, tại đây V đã tự nguyện giao nộp 06 gói ma túy trên và khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Văn V, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải không phát hiện thu giữ gì thêm.
Tại Bản kết luận giám định số 1918/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine) có khối lượng 0,2410 gam. Heroin STT: 09, Danh mục IA, phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSTH ngày 21/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trương Văn V về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trương Văn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng số 35 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Văn V từ 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,1850 gam Heroine được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1918/KL- KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và người làm chứng không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trương Văn V khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào chiều ngày 28/12/2023, mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình lập ngày 03/01/2024;
- Biên bản tạm giữ, đồ vật tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình lập cùng ngày 28/12/2023;
- Bản kết luận số 1918/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
- Biên bản ghi lời khai của người làm chứng là anh Hà Văn Th và anh Nguyễn Hữu H.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, tại khu vực cổng làng thuộc thôn N, xã C, huyện H. Công an huyện Tiền Hải phát hiện bắt quả tang Trương Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 06 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,2410 gam trong túi quần bên phải đang mặc với mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Trương Văn V đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ……………………………………………………………………………
c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;
....................................................................................................................
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Trương Văn V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân huyện Tiền Hải quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc.
Về tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt:
. Về hình phạt chính: Xét thấy, ma túy là hiểm họa của toàn xã hội và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, bản thân bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho mình, nhưng chỉ vì ham chơi, thiếu bản lĩnh mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,1850 gam Heroine. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa. Bị cáo khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực trường trung học phổ thông Nguyễn Đức Cảnh, thành phố B nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định đối tượng đã bán ma túy cho Trương Văn V để xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo Trương Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Văn V 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/12/2023.
3/ Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Bị cáo Trương Văn V sau khi hoàn giám định còn lại là 0,1850 gam Heroine được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1918/KL- KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2024 giữa Công an huyện Tiền Hải và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).
4/ Về án phí: Bị cáo Trương Văn V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/4/2024).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tiền Hải; - Công an huyện Tiền Hải; - Chi cục THADS huyện Tiền Hải; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |