- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ tráp phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy có dấu niêm phong số 773MT/PC09 (trong chứa 0,25 gam heroin cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày 30-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thuý Mở
Ông Phạm Công Hạ
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên Thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn Z, sinh năm 19xx, tại tỉnh Sơn La; nơi đăng ký thường trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện nay: Thôn 1, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Q và bà Lò Thị T; có vợ là Lò Thị U và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 03/10/2023 đến ngày 12/10/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn Z: Ông Phạm Duy Khoa - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâ, trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 03/10/2023, tại thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Thủy Nguyên kết hợp Công an xã Tân Dương phát hiện Lò Văn Z có biểu hiện cất giấu trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an đã thu tại túi quần phía trước bên phải của Z 02 gói giấy trong chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy), tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 26AA-082.69 (kiểm tra không phát hiện, thu giữ gì). Tại thời điểm bắt giữ có anh Nguyễn Văn Đỉnh, sinh năm 1978, trú tại xã Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên đi cùng Z. Tổ công tác đã đưa Z, anh Đỉnh cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Khám xét nơi ở của Z tại thôn 1, xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Kết luận giám định số 773/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố kết luận: 02 gói giấy chứa chất bột màu trắng thu của Z có khối lượng 0,35 gam, loại Heroin.
Tại Cơ quan điều tra Z khai: do nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ ngày 03/10/2023, Z điều khiển xe mô tô sang đường tàu nội thành Hải Phòng mua của người đàn ông không quen biết 02 gói heroin với giá 100.000 đồng để sử dụng. Z cất ma túy vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô về nhà, khi đi đến khu vực chân cầu Bính thuộc quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng thì gặp anh Nguyễn Văn Đỉnh hỏi đi nhờ xe về xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên. Z đồng ý cho anh Đỉnh đi nhờ, khi cả hai đi đến khu vực thôn 4B, xã Tân Dương thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì giấy có dấu niêm phong số 773MT/PC09 (trong chứa 0,25 gam heroin cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định) chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 26AA-082.69 Cơ quan điều tra tạm giữ của Z, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh Quàng Văn Bó, sinh năm 1987, trú tại xã Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La (bạn của Z). Z mượn xe của anh Bó không nói rõ mục đích đi mua ma túy. Sau khi tiến hành xong các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Bó.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lò Văn Z về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Z đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Kiểm sát viên sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn Z từ (18) tháng đến (24) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/10/2023.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì giấy có dấu niêm phong số 773MT/PC09 (trong chứa 0,25 gam heroin cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện Kiểm sát đã truy tố mà chỉ đưa thêm các tình tiết bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hoá thấp, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn... Từ đó, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng mức hình phạt khởi điểm mà Viện Kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáovà miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang phù hợp với Kết luận giám định số 773/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Ngày 03/10/2023, Lò Văn Z có hành vi cất giấu trái phép 0,35 gam heroine để sử dụng cho bản thân bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang tại khu vực thôn 4B, xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cá nhân không được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền mà tự ý mua bán, giữ và cất giấu ma túy là trái pháp luật. Nhưng vì bị cáo thường xuyên sử dụng ma túy nên bị cáo vẫn mua và cất giữ ma túy sử dụng cho bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, kết luận: Bị cáo Lò Văn Z phạm tội phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về lượng hình: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng tuy nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự song bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm 01 phong bì giấy có niêm phong số 773MT/PC09 (trong chứa 0,25 gam heroin cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định). Xét chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Bị được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn Z 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/10/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy có dấu niêm phong số 773MT/PC09 (trong chứa 0,25 gam heroin cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định). Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm. thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lò Văn Z.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên;
- Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên;
- Trại giam công an thành phố Hải Phòng;
- Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Công an thành phố Hải Phòng;
- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
Lương Ngọc Anh
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Công Hạ
Bùi Thuý Mở
Lương Ngọc Anh
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên; - Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên; - Trại giam công an thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên; - TAND thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Anh |