vanban.org

Bản án 27/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội Tuyên án 29/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1: 15 (mười lăm) tháng tù - về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Duy T1 còn lại sau giám định; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1: 15 (mười lăm) tháng tù - về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2023.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST
Ngày: 29/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hoan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xuân Thưởng

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hoài - Cán bộ Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân nhân quận T, thành phố Hà Nội mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy T1 - sinh năm 1982; ĐKTT và chỗ ở: Số n, phường V, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy C1, sinh năm 1959 và bà Đỗ Thị C2, sinh năm 1960; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợlà Nguyễn Thị H1,sinhnăm1988và01 con sinh năm2013; Tiền án:Ngày 17/4/2019, TAND quận Hoàn Kiếm xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 11/3/2021 (Đã được xoá án tích); Tiền sự: Năm 2001bị Công an phường Văn Miếu xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi Đánh bạc theo Quyết định số 017952 ngày 21/6/2001; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/10/2023 đến ngày 17/10/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số I - Công an thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 11/10/2023, Nguyễn Duy T1 và Trần Trung K1 (Sinh năm 1981; HKTT: Hàng T, HK, Hà Nội) quen nhau tại trung tâm cai nghiện ở địa chỉ số 7xx Bạch Đằng, Hà Nội. T1 nhờ K1 chở đến ga Hà Nội trên đường Trần Quý Cáp để có việc. Đến nơi, T1 bảo K1 dừng lại rồi T1 đi bộ vào khu vực ga Hà Nội. Do T1 muốn sử dụng ma túy nên T1 gặp một người đàn ông (không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ) để hỏi mua ma tuý loại Heroin với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Người đàn ông đó bán cho T1 01 (một) gói giấy bạc bên trong có 02 (hai) gói giấy màu vàng bên trong có chứa ma túy. Sau khi mua được ma tuý, T1 cất giấu số ma túy trên vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc. Sau đó, T1 rủ K1 đi ăn. K1 chở T1 bằng chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng đen, biển kiểm soát: 18H3-3xxx đi đến khu vực Lạc Long Quân - Vệ Hồ thuộc phường Bưởi, Tây Hồ, Hà Nội thì bị Tổ công tác Y15/141 - CATP Hà Nội kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của T1 đang mặc có 01 (một) gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc có 02 (hai) gói giấy màu vàng có chứa chất màu trắng. T1 khai nhận 02 (hai) gói bột màu trắng là ma túy Heroin của T1. Sau đó, Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ niêm phong số ma tuý trên rồi đưa T1 và K1 cùng tang vật, phương tiện về trụ sở Công an phường Bưởi để làm rõ.

* Tang vật thu giữ của Nguyễn Duy T1:

+ 01 (một) CCCD số 00108204xxx mang tên Nguyễn Duy T1.

+ 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có 02 (hai) gói giấy màu vàng bên trong 02 (hai) gói giấy màu vàng có chứa chất màu trắng.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng, không kiểm tra số IMEI.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra số IMEI.

+ Tiền mặt: 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng).

* Tang vật thu giữ của Trần Trung K1:

+ 01 (một) CCCD số 03608100xxx mang tên Trần Trung K1.

+ 01 (một) Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng đen, biển kiểm soát: 18H3-3xxx SM: 2179aa; SK: 2179aa.

Tại Bản kết luận giám định số 6905 ngày 19/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: Chất bột mầu trắng bên trong 02 gói giấy màu vàng (được gói bên trong 01 gói giấy bạc) có tổng khối lượng 0,194 gam đều là ma tuý loại Heroin.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. T1 khai mục đích mua ma tuý để sử dụng và K1 không biết T1 tàng trữ số ma tuý đó trong người.

Đối với Trần Trung K1, không biết việc T1 mua ma túy và cất giấu trên người nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với K1. Quá trình xét nghiệm, K1 dương tính với ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã bàn giao K1 cho Công an phường Bưởi lập hồ sơ đưa K1 đi cai nghiện bắt buộc, diện lang thang tại Trung tâm cai nghiện ma túy số II Hà Nội.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho T1. T1 khai không biết họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không làm rõ, xử lý được.

Đối với: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu vàng đen, biển kiểm soát: 18H3-3xxx; SM: 2179aa; SK: 2179ii. K1 khai là xe K1 mượn của một người bạn xã hội tên là Hà để sử dụng làm phương tiện đi lại. Hiện K1 không biết Hà ở đâu, làm gì, không có số điện thoại để liên lạc với Hà. Tra cứu chủ đăng ký xe mang tên Nguyễn Ngọc Đ1, sinh năm 1984, HKTT: CB, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Anh Đ1 cho biết chiếc xe mô tô trên anh Đ1 mua và đăng ký chính chủ sử dụng từ năm 2010 nhưng đến năm 2012, anh Đ1 đã bán lại chiếc xe kèm theo giấy tờ xe cho một người khác, anh không nhớ họ tên, địa chỉ. Giấy tờ mua bán xe anh Đ1 đã làm thất lạc. Cơ quan điều tra đã tra cứu chiếc xe này không nằm trong dữ liệu xe vật chứng nên Cơ quan điều tra đã tiến hành tách rút tài liệu để tiến hành xác minh làm rõ sau.

Đối với: 01 (một) CCCD số 03608100xxx mang tên Trần Trung K1 đây là căn cước công dân của K1, hiện K1 đang đi cai nghiện bắt buộc không nhận lại được nên đã có đơn xin trả lại căn cước công dân trên cho vợ K1 là chị Đỗ Phương T2, sinh năm: 1985, HKTT và chỗ ở: Hàng B, Đống Đa, Hà Nội, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho chị Thảo căn cước công dân trên.

Bản cáo trạng số 08/CT-VKSTH ngày 24 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Duy T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Bị cáo Nguyễn Duy T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên cáo trạng và quyết định đã truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1 từ 14 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy của vụ án (khối lượng chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định).

- Trả lại cho Nguyễn Duy T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy T1 và 2.100.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thẩm quyền: Vụ án xảy ra tại quận T nên thẩm quyền khởi tố, điều tra, tuy tố và xét xử thuộc thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng của quận T, thành phố Hà Nội.

.Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố; Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại nên về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều là hợp pháp.

. Về tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; bằng biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định và bằng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 11/10/2023, tại khu vực đường Lạc Long Quân - Vệ Hồ, thuộc phường Bưởi, quận T, thành phố Hà Nội, Nguyễn Duy T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,194 gam ma tuý loại Heroin với mục đích sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Y15/141 - Công an thành phố Hà Nội kiểm tra phát hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy; bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ để nhận thức về tác hại của ma túy. Ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác, xâm hại tới đạo Đ1 và sức khỏe con người, làm suy yếu nền kinh tế cộng đồng, gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét như: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, để giảm nhẹ một phần hình phạt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Vềtìnhtiếtgiảmnhẹtrách nhiệm hình sự:Bịcáođượchưởng tìnhtiếtgiảmnhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là thành khẩn khai báo.

. Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về tang vật và xử lý vật chứng:

+ Toàn bộ số ma tuý đã thu giữ còn lại sau khi đã giám định là loại ma túy mà Nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

+ Đối với: 01 điện thoại di động Iphone và 01 điện thoại di động Redmi màu xanh; 01 căn cước công dân và 2.100.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác nhận là tài sản và giấy tờ cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1: 15 (mười lăm) tháng tù - về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

+ Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Duy T1 còn lại sau giám định;

+ Trả lại Nguyễn Duy T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy T1 và 2.100.000 đồng. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Chi tiết theo biên bản bản giao vật chứng, tài sản ngày 25/01/2024 giữa Công an và Chi cục THA dân sự quận T).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Duy T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo Nguyễn Duy T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND thành phố Hà Nội;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- CA-VKSND quận T;

- Cơ quan THADS quận T ;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ và lưu trữ.

Bùi Văn Hoan THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Hoan

Cỡ chữ