- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ VĂN Q - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2024/HS-PT Ngày 23 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.
Các Thẩm phán: 1. Ông Lê Công Huân.
2. Ông Ngô Ngọc Thắng. Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 448/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Lê Văn Q, Từ Đ, Nguyễn Quốc S do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 231/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Văn Q; sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 11 Lô D C, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú: A34/4F1 ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 0/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lê Văn P và bà Tống Mỹ N; có vợ và 01 người con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 06/12/201, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 23/11/2013 chấp hành xong, tái hòa nhập cộng đồng; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”(vắng mặt).
2. Nguyễn Quốc S; sinh năm 1973 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 713 đường H, Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú: A26/3115 ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: thợ may; trình độ văn hóa: 07/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim A; có vợ và 02 người con, sinh năm 2004 và năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
3. Từ Đức C; sinh năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 29/15/3 đường L, Khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú: 168/22 đường T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; con ông Từ Kim C1 và bà Lương Muối M1 (đã chết); có vợ và 01 người con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
- Người bào chữa:
Luật sư Vũ Văn L – Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H bào
chữa cho bị cáo Từ Đức C2 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 23/01/2022, Đội Cảnh sát điều tra về Trật tự xã hội Công an huyện B phối hợp Công an xã P và Phòng PCông an Thành phố H tiến hành kiểm tra bãi đất trống thuộc Tổ E, ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Tấn N1 và Ông T đang tổ chức cho Thái Thành T1, Uông Hoàng T2, Lê Văn Q và một số đối tượng khác tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà được thua bằng tiền, thu giữ 02 con gà cùng các vật chứng liên quan sử dụng vào việc đá gà. Qua truy xét, lấy lời khai các đối tượng bắt quả tang, cơ quan điều tra công an huyện B phát hiện Từ Đ, Nguyễn Quốc S có tham gia đánh bạc vào ngày 23/01/2022 do Nguyễn Tấn N1 tổ chức.
Ngày 23/01/2022, Nguyễn Tấn N1 và Ông T cùng nhau tổ chức được 06 độ gà, trong đó xác định: Độ gà thứ sáu có sự tham gia đánh bạc của Từ Đức Can, Lê Văn Q, Nguyễn Quốc S, cụ thể:
Độ gà thứ sáu: Giữa gà tre bướm chấp gà tre điều đá ăn 9, cáp đá sổ 3.000.000 đồng và đá giao hữu 7.000.000 đồng, Ông T làm trọng tài.
Bên gà tre điều: Chủ gà là Trầm Kiện tham gia 2.000.000 đồng; Hồ Chí H tham gia 1.000.000 đồng, sau đó H chia cho Từ Đức Can 500.000 đồng; Thái T, Lương Tấn P1, Uông Hoàng T2 mỗi người tham gia 500.000 đồng.
Bên gà tre bướm: Chủ gà là Nguyễn Vũ Nhật T3 tham gia 1.000.000 đồng; Nguyễn Hoàng K băng cựa và thả gà cho T3. Nếu gà của T3 đá thắng thì T3 sẽ cho K tiền nhưng không hứa hẹn trước sẽ cho bao nhiêu; Lê Văn Q tham gia 500.000 đồng; Nguyễn Quốc S tham gia 3.000.000 đồng thông qua T3 bằng điện thoại và không có mặt tại địa điểm đá gà, đánh bạc không thông qua biện; Nguyễn Hoàng Trung H1 tham gia 1.000.000 đồng thông qua T3 bằng điện thoại, Nguyễn Hoàng Trung H1 không biết số tiền đá sổ, đá giao hữu của độ gà và không có mặt tại địa điểm đá gà;
Kết quả gà tre bướm thắng, các bên chưa kịp giao nhận tiền thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Theo tinh thần Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao: Tiền dùng để đánh bạc của Trầm K1, Hồ Chí H, Từ Đức C2, Thái T, Lương Tấn P1, Uông Hoàng T2, Nguyễn Vũ Nhật T3, Nguyễn Hoàng K, Lê Văn Q trong độ gà quả tang là: 19.000.000 đồng (gồm 10.000.000 đồng gà tre bướm+9.000.000 đồng bên gà tre điều)
- Do Nguyễn Quốc S đánh bạc không thông qua biện nên số tiền dùng để đánh bạc của Nguyễn Quốc S trong độ gà quả tang là: 5.700.000 đồng (gồm 3.000.000 đồng của S + 2.700.000 đồng bên gà tre bướm).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 231/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Từ Đức C2 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Văn Q 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc S 09 (chín) tháng tù về tội tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2023 bị cáo Lê Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Nguyễn Quốc S kháng cáo xin được án treo; ngày 29/9/2023 bị cáo Từ Đức C2 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Riêng bị cáo Từ Đức C2 và Nguyễn Quốc S xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhận định án sở thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với bị cáo Q: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 355, Điều 356, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lê Văn Q.
Đối với các bị cáo Từ Đức C2, Nguyễn Quốc S nhận thấy các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khao báo, ăn năn hối cải. Hiện đang có nơi cư trú và công việc ổn định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Như vậy, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Từ Đức C2 trình bày: thống nhất với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo C2 là người dân tộc H2, không biết chữ, trình độ nhận thức pháp luật có hạn chế, số tiền đánh bạc không lớn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, cho bị cáo Từ Đức C2 được hưởng án treo.
Các Bị cáo không tranh luận.
Các Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc gia đình và điều trị bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hình thức: Sau khi xét xử sơ thẩm đến ngày 02/10/2023 bị cáo Lê Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Nguyễn Quốc S kháng cáo xin được án treo; ngày 29/9/2023 bị cáo Từ Đức C2 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Xét kháng cáo được làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, cần chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với bị cáo Lê Văn Q vắng mặt tại phiên tòa: Xét thấy tại phiên tòa lần 1 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5870/2023/QĐXXPT-HS ngày 12/12/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tống đạt quyết định xét xử này qua đường bưu điện, tại kết quả B thể hiện đã phát thành công, người nhận là ông Lê Văn Q, nhưng bị cáo Q không đến tham dự phiên tòa ngày 27/12/2023, không có lý do chính đáng. Đến ngày 28/12/2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở lại phiên tòa xét xử vào ngày 23/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6177/2023/QĐXXPT-HS. Quyết định đưa vụ án ra xét xử được tống đạt cho bị cáo qua Thừa Phát L1 nhưng tại thời điểm tống đạt bị cáo không có mặt tại nơi ở, không có người nhận thay có xác nhận của công an khu vực và chính quyền địa phương. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6177/2023/QĐXXPT-HS ngày 28/12/2023 theo Biên bản niêm yết công khai giấy tờ, hồ sơ, tài liệu ngày 02/01/2024 tại nơi cư trú của bị cáo và tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, căn cứ vào Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy bị cáo vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, việc vắng mặt bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 23/01/2022, tại bãi đất trống thuộc Tổ E, ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, Từ Đ, Nguyễn Quốc S, Lê Văn Q tham gia đánh bạc dưới hình thức cá độ đá gà thắng thua bằng tiền do Nguyễn Tấn N1 và Ông T tổ chức. Kết quả điều tra xác định ở độ gà thứ sáu: Giữa gà tre bướm chấp gà tre điều đá ăn 9, cáp đá sổ 3.000.000 đồng và đá giao hữu 7.000.000 đồng. Kết quả gà tre bướm thắng, các bên chưa kịp giao nhận tiền thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Số tiền bị cáo Từ Đức C2, Lê Văn Q dùng để đánh bạc trong độ gà quả tang là: 19.000.000 đồng (gồm 10.000.000 đồng gà tre bướm + 9.000.000 đồng bên gà tre điều) số tiền này được xác định theo tỷ lệ gà tre bướm chấp gà tre điều đá ăn 9.
Riêng bị cáo Nguyễn Quốc S tham gia đánh bạc đá gà không thông qua biện nên số tiền dùng để đánh bạc của Nguyễn Quốc S trong độ gà quả tang là: 5.700.000 đồng (gồm 3.000.000 đồng của S đánh bạc + 2.700.000 đồng bên gà tre bướm thắng theo tỷ lệ ăn 9 (3000.000 đồng x 9).
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Văn Q, Từ Đức C2, Nguyễn Quốc S về tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn Q: Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bị cáo tham gia đánh bạc dưới hình thức cá độ đá thắng thua bằng tiền, trong đó xác định số tiền đánh bạc của bị cáo Q là 19.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự an ninh chính trị tại địa phương, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu. Do đó, mức hình phạt đặt ra phải nghiêm, để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất, mức độ và hậu quả phạm tội do bị cáo gây ra để xử phạt bị cáo Q 12 tháng tù là thỏa đáng, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Xét kháng cáo của các bị cáo Từ Đức C2, Nguyễn Quốc S: Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội lần đầu; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho các bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu, xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; đang có nghề nghiệp và nơi cư trú ổn định. Đối chiếu quy định tại Điều 2 và Điều 3 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 của Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, thì các bị cáo Nguyễn Quốc S và Từ Đức Can đủ điều kiện được hưởng án treo và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Vì vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cho các bị cáo được hưởng án treo, như vậy cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Việc cho các bị cáo hưởng án treo cũng phù hợp với lời đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo C2 tại phiên tòa.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn Q; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Từ Đức C2, Nguyễn Quốc S. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 231/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
1/ Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Văn Q 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
2/ Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Từ Đức C2 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ được thực hiện theo Điều 92 luật Thi hành án hình sự năm 2019.
3/ Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc S 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ được thực hiện theo Điều 92 luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Bị cáo Lê Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Quốc S, Từ Đức C2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm về các vấn đề không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo).
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND H. Bình Chánh; (2) - P.PV06 - CATP; (1) - Bị cáo; (3) - THADS H. Bình Chánh; (1) - TAND H. Bình Chánh; (2) - Công an H. Bình Chánh; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (3) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (26) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hà. |