vanban.org

Bản án 27/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Yến L được ly hôn với ông Lê Phước T.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Yến L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Lê Nguyễn Thiên M, sinh ngày 29/7/2021. Ông Lê Phước T không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Lê Phước T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Yến L yêu cầu ly hôn với ông Lê Phước T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Yến L được ly hôn với ông Lê Phước T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-5-2024
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Ngọc Phi;

Ông Bùi Huy Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 423/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2024/QĐST-HPT, ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Yến L, sinh năm 2000 (Vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Khu phố H, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Ông Lê Phước T, sinh năm: 1996 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến L trình bày:

Bà Nguyễn Thị Yến L và ông Lê Phước T yêu thương nhau rồi đi đến kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 15/03/2021 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Từ khi chung sống vợ chồng đến nay thì bà L và ông T thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, ông T không quan tâm đến vợ con, thường xuyên chơi bời, ngoại tình vì mâu thuẫn nêu nhiều lần ông T còn đánh tôi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài, không thể hàn gắn được và bà L, ông T đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Từ khi ly thân ông T không nhắn tin, hỏi thăm, lo lắng tới bà L và con chung. Nay bà Nguyễn Thị Yến L không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Yến L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Nguyễn Thị Yến L được ly hôn với ông Lê Phước T.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Yến L và ông Lê Phước T có 01 người con chung là cháu Lê Nguyễn Thiên M, sinh ngày 29/7/2021. Bà L có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Thiên M và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Yến L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Lê Phước T đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập, thông báo đến Tòa án để tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và ghi nhận ý kiến của ông T được.

Kết quả thu thập chứng cứ: Theo kết quả xác minh tại địa phương, nơi sinh sống của bà L, ông T ngày 19/02/2024 ghi nhận được nội dung sau: Thời gian đầu bà L và ông T chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thấy ông T và bà L thường xuyên mâu thuẫn, và cãi nhau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng nên làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Yến L và ông Lê Phước T có đăng ký kết hôn, nay bà L xin ly hôn nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Hiện bị đơn ông Lê Phước T đang cư trú tại xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Đức.

Bà Nguyễn Thị Yến L có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Lê Phước T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với bà L và ông T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Yến L và ông Lê Phước T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Từ khi chung sống vợ chồng đến nay thì bà L và ông T thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, ông T không quan tâm đến vợ con, thường xuyên chơi bời, ngoại tình vì mâu thuẫn nêu nhiều lần ông T còn đánh tôi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài, không thể hàn gắn được và bà L, ông T đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Từ khi ly thân ông T không nhắn tin, hỏi thăm, lo lắng tới bà L và con chung. Nay bà Nguyễn Thị Yến L không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Yến L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Nguyễn Thị Yến L được ly hôn với ông Lê Phước T.

Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương ngày 19/02/2024 ghi nhận được nội dung sau: Thời gian đầu bà L và ông T chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thấy ông T và bà L thường xuyên mâu thuẫn, và cãi nhau.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập các bên đến trụ sở Toà án nhằm để ghi nhận ý kiến và hoà giải, nhưng do ông T vắng mặt nên không thể ghi nhận ý kiến và hòa giải hàn gắn được.

Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và kết quả xác minh thu thập chứng cứ tại địa phương nhận thấy có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng của nguyên đơn và bị đơn là trầm trọng, cả hai đều không có tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà L và ông T có 01 người con chung là cháu Lê Nguyễn Thiên M, sinh ngày 29/7/2021. Bà L có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu M và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa án để trình bày nguyện vọng về con chung, nên Tòa án không thể ghi nhận nguyện vọng của ông T về giải quyết con chung.

Căn cứ vào ý kiến, nguyện vọng của nguyên đơn bà L và nhận thấy cháu M còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi và từ khi bà L và ông T ly thân thì cháu M sống chung với bà L và bà L vẫn đảm bảo sự ổn định về các tâm sinh lý cũng như sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cho cháu M. Do đó để đảm bảo quyền lợi của con chung sau khi ly hôn nên giao cháu M cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng;

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Vì bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần ghi nhận sự tự nguyện của bà L là không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Yến L không yêu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Yến L phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Yến L được ly hôn với ông Lê Phước T.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Yến L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Lê Nguyễn Thiên M, sinh ngày 29/7/2021. Ông Lê Phước T không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Lê Phước T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Yến L không yêu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Yến L phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001594, ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà Nguyễn Thị Yến L đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/5/2024) các đương sự được quyền kháng cáo. Do bà L và ông T đều vắng mặt nên thời hạn này được tính từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết có quyền yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ