vanban.org

Bản án 27/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 30/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình

sự N 2015 (sửa đổi, bổ sung N 2017). [2] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ánh Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2023/HS-ST

Ngày: 30/03/2023

HUYỆN TP Độc lập - Tự do -Hạnh phúc NHÂN DA TÒA ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN TP, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Bích Lam + Bà Trần Thị Hà - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 3 N 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP xét xử sơ thẩm công kH vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 3 N 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 03 N 2023, đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Thị Ánh Tr, sinh ngày: 03/10/1975 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố GH3, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; Chồng: Nguyễn Văn A; Con: có 03 người; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Qua tin báo của quần chúng nhân dân, tại nơi ở của Nguyễn Thị Ánh Tr có đối tượng nghi vấn mua bán trái phép chất ma túy nên khoảng 10 giờ 15 phút ngày 14/12/2022, Công an huyện TP phối hợp với Công an thị trấn PRC tiến hành kiểm tra và bắt quả tang Nguyễn Thị Ánh Tr, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại vị trí dưới đất ngay tại cửa sổ, bên ngoài nhà của Tr 01 hộp hình trụ

màu xA có nắp đậy, bên ngoài hộp nhựa có dòng chữ Big Babol, bên trong có 03 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước giống nhau khoảng 01cm × 2,5cm, bên trong các gói nylon đều có chứa chất tinh thể màu trắng, Nguyễn Thị Ánh Tr kH nhận chất tinh thể màu trắng trong các gói nylon là ma túy đá, Tr cất giấu với mục đích bán cho người nghiện kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ. Cụ thể, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 8 giờ ngày 14/12/2022, Tr đang ở trước nhà của Tr thuộc khu phố GH3, thị trấn PRC, huyện TP thì thấy có 01 người thA niên không rõ nhân thân lai lịch. Tr biết người này nghiện ma túy nên liền nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho người nghiện để kiếm lời, Tr hỏi người thA niên có ma túy không bán cho Tr nhưng người thA niên này nói đang đi tìm mua ma túy. Tr đưa cho người thA niên này số tiền 300.000 đồng để nhờ mua giúp ma túy đá thì người này đồng ý, người thA niên nhận tiền rồi khoảng 30 phút sau quay trở lại đưa cho Tr 03 gói ma túy có đặc điểm: 03 gói nylon không màu được hàn kín, có kích thước giống nhau khoảng 01cm × 2,5cm, bên trong các gói nylon đều có chứa chất tinh thể màu trắng. Sau đó, Tr nhặt 01 hộp nhựa màu xA có nắp đậy trước nhà, bên ngoài hộp nhựa có dòng chữ Big Babol, Tr bỏ 03 gói ma túy vừa mua được vào hộp nhựa rồi cất giấu trên bàn trong nhà, ngay vị trí cửa sổ. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, do lo sợ bị bắt nên Tr đã lấy hộp nhựa bên trong có ma túy bỏ ra ngoài cửa sổ thì bị phát hiện, bắt giữ cùng tang vật. 03 gói nylon không màu, đều được hàn kín, mỗi gói nylon kích thước 01×2,5cm, bên trong 03 gói nylon đều chứa tinh thể màu trắng đã thu giữ của Nguyễn Thị Ánh Tr được niêm phong trong phong bì có ký hiệu số 01, gửi giám định được định dA là mẫu M. Tại bản kết luận giám định số: 1355/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,4467 gam, là Methamphetamine. Tại phiên tòa, bị cáo đã kH nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời kH của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ các tang vật chứng và kết quả giám định chất ma túy. Về tang vật chứng: Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện TP: 03 gói nylon không màu, đều được hàn kín, mỗi gói nylon kích thước 01×2,5cm, đều đã cắt lấy mẫu và 0,3532 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1355. Tại phiên tòa sơ thẩm: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 28/CT-VKSTP-HS ngày 06/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự N 2015 (sửa đổi, bổ sung N 2017). - Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự N 2015 (sửa đổi, bổ sung N 2017). - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr mức án từ 02 (H) N đến 02 (H) N 06 (Sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án - Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 03 gói nylon không màu, đều được hàn kín, mỗi gói nylon kích thước 01×2,5cm, đều đã cắt lấy mẫu và 0,3532 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1355. Là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP). Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo không trA luận và đồng ý với quyết định truy tố và lời luận tội của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội. Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả trA luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật. [2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời kH của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không

oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời kH của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ ngày 14/12/2022, trong lúc đứng trước nhà, bị cáo thấy một người thA niên không rõ nhân thân lai lịch, bị cáo biết người này nghiện ma túy nên liền nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho người nghiện khác để kiếm lời. Bị cáo đưa cho người thA niên này số tiền 300.000 đồng để nhờ mua giúp ma túy đá thì người này đồng ý, người thA niên nhận tiền rồi đi khoảng 30 phút sau quay trở lại đưa cho bị cáo 03 gói ma túy có đặc điểm: 03 gói nylon không màu được hàn kín, có kích thước giống nhau khoảng 01cm × 2,5cm, bên trong các gói nylon đều có chứa chất tinh thể màu trắng. Sau đó, bị cáo nhặt một hộp nhựa màu xA có nắp đậy trước nhà, bên ngoài hộp nhựa có dòng chữ Big Babol, bị cáo bỏ 03 gói ma túy vừa mua được vào hộp nhựa rồi cất giấu trên bàn trong nhà, ngay vị trí cửa sổ. Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 14/12/2022, Công an huyện TP phối hợp với Công an thị trấn PRC tiến hành kiểm tra và bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại vị trí dưới đất ngay tại cửa sổ, bên ngoài nhà của bị cáo 01 hộp hình trụ màu xA có nắp đậy, bên ngoài hộp nhựa có dòng chữ Big Babol, bên trong có 03 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước giống nhau khoảng 01cm × 2,5cm, bên trong các gói nylon đều có chứa chất tinh thể màu trắng. Bị cáo kH nhận chất tinh thể màu trắng trong các gói nylon là ma túy đá, động cơ, mục đích của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nhằm bán cho người nghiện khác kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ. Căn cứ kết luận giám định số: 1355/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,4467 gam, là Methamphetamine. Vì vậy, Cáo trạng số: 28/CT-VKSTP-HS ngày 06/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự N 2015 như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. [3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt: Ma tuý là chất gây nghiện đã được ghi nhận trong dA mục các chất ma túy do Chính Phủ ban hành và quản lý. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển bền vững của xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rút gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Bị cáo là phụ nữ, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng bị cáo vẫn coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam. [4] Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: [4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn kH báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa. [5] Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 03 gói nylon không màu, đều được hàn kín, mỗi gói nylon kích thước 01×2,5cm, đều đã cắt lấy mẫu và 0,3532 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1355. Là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP). [6] Đối với người thA niên đã mua bán ma túy cho bị cáo do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [8] Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định như trên, nên được chấp nhận toàn bộ. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự N 2015 (sửa đổi, bổ sung N 2017). [2] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. [3] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr mức án 02 (H) N tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án

[4] Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 03 gói nylon không màu, đều được hàn kín, mỗi gói nylon kích thước 01×2,5cm, đều đã cắt lấy mẫu và 0,3532 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1355.Là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP). [5] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr phải chịu 200.000 đồng (H trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. [6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự N 2015. Án xử công kH có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30-3-2023)./.

Cỡ chữ