- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày 11/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
Các Hội thẩm Tòa án nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Xuyến.
2. Ông Thái Quang Định.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố UB tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung H, sinh ngày 04 tháng 12 năm 1988; tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: khu 10, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công P và bà Nguyễn Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: Năm 2020, bị Toà án nhân dân thị xã Q ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, từ ngày 27/10/2020 đến ngày 27/4/2022 chấp hành xong Quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 10/12/2022 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Anh Bùi Văn M, sinh năm 1979.
Địa chỉ: tổ 3, khu T, phường P, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh.; vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
+ Anh Bùi Mạnh T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: tổ 3, khu T, phường P, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 09 giờ 45 phút ngày 10/12/2022, tại khu vực tổ 4, khu B, phường P, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố UB, phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Trung H có hành vi tàng trữ trái phép chất nghi là ma túy. Quá trình kiểm tra, H dùng tay trái thả xuống nền đường cách vị trí H đứng khoảng 20cm 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Công an đã thu giữ vật chứng trên theo quy định, ngoài ra còn tạm giữ của H: 01 xe mô tô Honda Future biển kiểm soát 16H4 – 9026.
Kết luận giám định số 1967/KL-KTHS ngày 14/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine (Diacetylmorphine); Khối lượng: 0,857gam (không phẩy tám năm bẩy gam).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Trung H khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 08 giờ ngày 10/12/2022, khi đang ở nhà thuộc khu 10, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, H nảy sinh ý định tìm mua ma túy Heroine về sử dụng nên đã điều khiển xe mô tô Honda Future, biển kiểm soát 16H4 – 9026 đến nhà một người bạn tên Trọng (bạn bè xã hội) rủ đi mua ma tuý Heroine về cùng sử dụng. Trọng đồng ý và điều khiển xe mô tô chở H đến khu vực chân cầu Đá Bạc thuộc huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý. Tại đây, H đưa cho Trọng 500.000đồng để Trọng trực tiếp tìm mua ma túy, Trọng nhận tiền, rồi gọi điện thoại cho ai đó, H không nghe rõ. Khoảng 30 phút sau, có 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) đi đến, nhận từ Trọng số tiền 500.000đồng và đưa cho Trọng 01 gói giấy bạc màu trắng. Trọng cầm gói giấy rồi điều khiển xe mô tô chở H đến bãi đất trống gần nhà máy nâng hạ thuộc phường Phương Nam thì dừng xe, H và Trọng mở gói giấy bạc xác nhận bên trong có ma túy Heroine, định cùng nhau sử dụng luôn nhưng do có người đi lại nên Trọng gói lại và đưa gói ma túy cho H cầm, rồi Trọng điều khiển xe mô tô chở H về Q để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến khu vực ngã ba đường 10 thuộc tổ 4, khu B, phường P, thành phố UB, Trọng xuống xe vào quán nước chè, H vẫn ngồi trên xe. Đúng lúc này, lực lượng Công an phát hiện, yêu cầu kiểm tra H, H dùng tay trái thả xuống nền đường gói ma túy đang cầm, Công an đã thu giữ số ma túy trên.
Người làm chứng anh Bùi Văn M và anh Bùi Mạnh T đều có lời khai trong quá trình điều tra với nội dung: hai anh thấy lượng công an kiểm tra đối với Nguyễn Trung H, quá trình kiểm tra thấy H dùng tay trái thả xuống nền đường 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, anh H khai là ma túy loại Heroin mua của một người không quen biết tại chân cầu Đá Bạc, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, anh H mua ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tại Cáo trạng số 26/CT - VKSUB ngày 24/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố UB đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố UB giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với Nguyễn Trung H như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 18 đến 21 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 10/12/2022.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1967/KL-KTHS.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố UB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố UB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 10/12/2022, tại khu vực tổ 4, khu B, phường P, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Trung H bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,857gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố UB truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.
Về hình phạt:
Hình phạt chính:
Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự, năm 2020 bị cáo bị Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, từ ngày 27/10/2020 đến ngày 27/4/2022 chấp hành xong Quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo không lấy đó là bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho ban thân, qua đó cũng thể hiện bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để bị cáo rèn luyện, giáo dục và sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
01 phong bì niêm phong số 1967/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
01 xe mô tô tô nhãn hiệu Honda Future biển kiểm soát 16H4 – 9026, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Nguyễn Công Phú, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Phú nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên Trọng, H khai cùng đi mua ma túy để về sử dụng chung, quá trình điều tra xác định tên đầy đủ là Vũ Tuấn Trọng, trú tại khu Hợp Thành, phường Cộng Hòa, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, tuy nhiên đã xác minh nhiều lần nhưng Trọng đều vắng mặt tại địa phương, ngoài lời khai của H không có chứng cứ khác nên chưa có căn cứ xử lý đối với Trọng, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với người đàn ông bán ma túy, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không làm rõ được để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 10/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1967/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định.
(Tình trạng và đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 00 phút, ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa Công an thành phố UB và Chi cục thi hành án dân sự thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo:
Căn cứ: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo. - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố UB; - Nhà tạm giữ Công an thành phố UB; - CQCSĐT Công an thành phố UB; - CQTHAHS Công an thành phố UB; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ - Công an thành phố UB; - Chi cục THADS thành phố UB; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh. - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |