- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Việt T "Tang trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày 30/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Hiền
Ông Bùi Xuân Hưởng;
Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Thạch- Kiểm sát viên.
Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần (Phòng trực tuyến Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai) gồm có:
Thư ký: Ông Nhâm Đình Mạnh -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát: Bà Ngô Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023 Tại điểm cầu Trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến -Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2023/TLST - HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Dương Việt T; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 05/12/1980 tại T. Nơi cư trú: Tổ 4, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Huy H (sinh năm 1954) và bà Trần Thị N (đã chết); Bị cáo có vợ là Lục Thị T sinh năm 1986 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2009.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2023. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP Lào Cai. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần - Phòng trực tuyến Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/12/2022, tổ công tác Công an xã Cốc San, thành phố Lào Cai phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an thành phố Lào Cai làm nhiệm vụ tại đường quốc lộ 4D thuộc thôn Tòng Chú 3, xã Cốc San, thành phố Lào Cai phát hiện và bắt quả tang Dương Việt T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra bị cáo Dương Việt T tự giác lấy từ trong túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc 04 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục. Quá trình điều tra bị cáo khai nhận số ma túy trên bị cáo mua của một người nam giới không quen biết ở khu vực đường quốc lộ 4D thuộc khu vực thôn Giàng Thàng, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai vào ngày 23/12/2022 với giá 400.000 đồng để sử dụng cho bản thân.
Tại bản kết luận giám định số 19/KL - GĐMT ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Số ma túy thu giữ của bị cáo Dương Việt T có khối lượng 0,21 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine;
Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 16/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Dương Việt T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Việt T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu giám định; Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Dương Việt T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s và 20.000 đồng để đảm bảo thi hành án; Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Dương Việt T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Ngày 23/12/2022 bị cáo Dương Việt T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Theo kết luận giám định số 19/KL - GĐMT ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, số ma túy thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,21 gam là loại chất ma túy Heroine. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lào Cai. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,21 gam Heroine sau khi trích mẫu giám định còn lại 0,13 gam Heroine đã được tái niêm phong theo quy định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Xét thấy Heroine thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự là phù hợp.
Đối 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 và 20.000 đồng thu giữ của bị cáo, xét thấy chiếc điện thoại và số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí, do vậy cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án là phù hợp theo điều 47 Bộ luật Dân sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực đường quốc lộ 4D, thôn Giàng Thàng, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn tài liệu nào khác chứng minh nên không đủ căn cứ để xem xét trong vụ án này, xét thấy là phù hợp.
Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:
Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng, về vật chứng là phù hợp. Về mức hình phạt, bị cáo không có tiền án, tiền sự, khối lượng tàng trữ ma túy thấp nên mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là cao chưa phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Do vậy, HĐXX xét thấy cần có mức hình phạt phù hợp vừa thể hiện tính chất răn đe, phòng ngừa nhưng cũng đảm bảo tính khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Dương Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Dương Việt T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ ngày 23/12/2022.
2.Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng các mảnh giấy và bì niêm phong ban đầu được niêm phong vào 01 bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Dương Việt T ngày 23/12/2022 tại thôn Tòng Chú 3, xã Cốc San,, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”;
Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Dương Việt T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, màu bạc số IMEI: 358371062417921 (điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng) để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/3/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự TP Lào Cai và Cơ quan CSĐT- Công an TP Lào Cai)
Tiếp tục tạm giữ số tiền 20.000 đồng đã nộp vào tài khoản số 3949.0.9049863 của Công an thành phố Lào Cai theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 06/01/2023 để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Dương Việt T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND TP Lào Cai; - Nhà tạm giữ Công an TP Lào Cai; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Chi cục THADS TP Lào Cai ; - Lưu HS; TA | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Anh |