- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Huy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày: 30/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thương;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Ngà và ông Nguyễn Thành Đô.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Mừng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Nhà văn hóa xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 04 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Huy L, sinh năm 1966, tại Hải Dương;
HKTT/Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; trình độ học vấn: 10/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Trọng Q và bà: Vũ Thị C (cả hai đều đã chết); Vợ 1: Lê Thanh M (đã ly hôn); vợ 2: Hoàng Thị Mai T, sinh năm 1977; Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 2014;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận năm 1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Thái xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành án xong tại trại giam V.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2022 đến ngày 03/01/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Hoàng Thị Mai T, sinh năm 1977 (Có mặt);
Trú tại: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
+ Ông Hoàng Minh T1, sinh năm 1966 (Vắng mặt);
Trú tại: Thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên.
+ Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1967 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Số A Đ, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1998 (Vắng mặt);
- Anh Trần Văn H1, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 28/12/2022, tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác của Công an xã T tiến hành tuần tra, kiểm soát đã phát hiện, bắt quả tang Trương Huy L, sinh năm 1966, hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương có hành vi tàng trữ trong lòng bàn tay phải 01 bao thuốc lá Thăng Long vỏ mềm, bên trong có 01 gói giấy vệ sinh mềm, bên trong gói giấy vệ sinh có một gói giấy ô ly nhỏ chứa chất màu trắng dạng cục và bột (được niêm phong ký hiệu là M1). Tại chỗ L khai nhận chất màu trắng trong gói giấy trên là ma túy, loại Heroine do L mua về để sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Huy L, ở thôn P, xã T, huyện T. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 62/KL-KTHS(MT) ngày 31/12/2022 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi kí hiệu M1, có khối lượng 0,275g là ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra Trương Huy L khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 28/12/2022, Liệu một mình điều khiển xe máy biển số: 59E1- 106.22 (xe mượn của ông Hoàng Minh T1, sinh năm 1966, trú tại thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên) đi từ nhà ở thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương đến khu vực D, thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên để mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, L gặp 01 người đàn ông lạ mặt khoảng hơn 30 tuổi đang đi bộ ở khu vực D. Liệu nghĩ người này có ma túy bán nên hỏi người này “Để cho tôi hai trăm” ý hỏi mua hai trăm nghìn tiền ma tuý, thì người đàn ông này trả lời “Ừ, đợi tý”. Sau đó, L đưa cho người đàn ông lạ mặt này số tiền 200.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và bảo L đứng chờ. Người đàn ông đi khoảng 10 phút sau thì quay lại và vứt ra đường một vỏ bao thuốc lá Thăng Long, màu vàng và nói với L “Đấy”. Liệu hiểu là ma tuý vừa mua được ở trong bao thuốc lá nên điều khiển xe máy đến nhặt vỏ bao thuốc lá, rồi cầm trong lòng tay phải chuẩn bị điều khiển xe đi tìm chỗ để sử dụng thì bị lực lượng Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng và đưa về trụ sở làm việc.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho L tại khu vực D, thuộc thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Quá trình điều tra L khai nhận không biết tên, tuổi, nhân thân, lai lịch như thế nào. Do vậy không có đủ thông tin để xác minh làm rõ.
Đối với ông Hoàng Minh T1, là người đã cho bị cáo mượn chiếc xe máy biển số 59E1- 106.22: Quá trình điều tra xác định ông T1 cho L mượn xe để đi lại, không biết L sử dụng xe để đi mua ma túy, vì vậy không xem xét xử lý.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã thu giữ, quản lý: 01 xe máy, màu đỏ đen, gắn biển số: 59E1- 106.22, số khung: RLHJC4320BY241383, số máy: JC43E- 6172374; 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 62/KL-KTHS (MT) của Phòng K - Công an tỉnh H và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, loại vỏ mềm màu vàng.
Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKS-TL ngày 20/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Trương Huy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng và nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất.
Ngoài ra bị cáo thừa nhận trước đây bị cáo có thời gian sinh sống, cư trú tại thị xã B và năm 1996 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Thái xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép ma túy, bị cáo đã chấp hành án xong tại trại giam V.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trương Huy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Trương Huy L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 0,259g heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, loại vỏ mềm màu vàng. Trả lại cho ông Hoàng Minh T1 01 xe máy, màu đỏ đen, gắn biển số: 59E1- 106.22, số khung: RLHJC4320BY241383, số máy: JC43E- 6172374. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không làm trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này.
Về hành vi phạm tội và tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 28/12/2022, tại khu vực D, thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên, Trương Huy L đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,275g ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,275g Heroine để sử dụng, hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà bị cáo vẫn cố ý phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố, mẹ đẻ của bị cáo đều được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và Huy chương vì sự nghiệp giáo dục. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về hình phạt: Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tương xứng và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,259g Heroin là mẫu vật hoàn lại sau giám định, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.
- Đối với 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, loại vỏ mềm màu vàng không có giá trị sử dụng cho tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe máy, màu đỏ đen, gắn biển số: 59E1- 106.22, số khung: RLHJC4320BY241383, số máy: JC43E- 6172374 quá trình điều tra xác định ông Hoàng Minh T1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng và ngày 27/12/2022 đã cho bị cáo mượn chiếc xe máy để đi lại, không biết L sử dụng xe để đi mua ma túy nên không liên quan đến tội phạm.
Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xác định xe BKS 59E1- 106.22 đăng ký chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị L1; địa chỉ: 1 Đ, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh, Công an quận P cung cấp hiện bà L1 đã xuất cảnh sang Mỹ, đinh cư từ năm 2018 đến nay và không còn ở địa phương nên không lấy được lời khai của bà L1.
Mặc dù ông T1 không xuất trình được giấy tờ mua bán cũng như giấy tờ đăng ký xe (ông T1 khai đã làm mất), nhưng qua tra cứu dữ liệu thì chiếc xe cũng không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên cần giao trả chiếc xe máy màu đỏ đen, gắn biển số: 59E1- 106.22, số khung: RLHJC4320BY241383, số máy: JC43E-6172374 cho ông T1 đang là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Trường hợp sau này các bên có phát sinh tranh chấp về quyền sử hữu chiếc xe máy nêu trên thì sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho L tại khu vực D, thuộc thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Quá trình điều tra L khai nhận không biết tên, tuổi, nhân thân, lai lịch như thế nào. Do vậy không có đủ thông tin để xác minh làm rõ nên HĐXX không xem xét.
Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, áp dụng điều luật, mức hình phạt, xử lý vật chứng trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo bị xác định có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Huy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Trương Huy L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án (được trừ đi 06 ngày tạm giữ, từ ngày 28/12/2022 đến ngày 03/01/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, cho tiêu hủy: 0,259g Heroin trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 62/KL-KTHS (MT) của Phòng K - Công an tỉnh H; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, loại vỏ mềm màu vàng.
- Trả lại cho ông Hoàng Minh T1 01 xe máy, màu đỏ đen, gắn biển số: 59E1-106.22, số khung: RLHJC4320BY241383, số máy: JC43E- 6172374.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ ngày 05/5/2023).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trương Huy L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người có QL,NVNQ; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên; - Viện KSND huyện Tiên Lữ; - Cơ quan CSĐT, CQ thi hành án hình sự, Bộ phận HSNV cảnh sát Công an huyện Tiên Lữ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Thương |