vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn T1 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27/10/2022; phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày 30 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Văn Thịnh

Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Tu

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Bà Phạm Thị Châu Yên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Văn T1, sinh năm 1989, tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu …, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C (đã chết) và bà Phạm Thị X; chưa có vợ; tiền sự: Không; tiền án: Có 02 tiền án:

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 53/2011/HSST ngày 16/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt Phan Văn T1 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại anh Nguyễn Văn T2 số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/01/2013, đến nay bị cáo chưa bồi thường cho bị hại số tiền trên.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 141/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sơn La xử phạt Phan Văn T1 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án này xác định bị cáo phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2022, nộp xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 07/11/2017.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 80/2007/HSST ngày 18/9/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Phan Văn T1 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo chấp hành án xong hình phạt tù ngày 27/6/2008 và chấp hành xong bản án ngày 21/11/2008.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/10/2022 đến ngày 04/11/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Ông Đinh Quốc H1 - Luật sư Văn phòng luật sư số 1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ: xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người làm chứng: Anh Huỳnh Kim N; anh Nguyễn Anh Đ; chị Nguyễn Thị H2 (đều vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ơ

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn T1 là người nghiện ma túy, qua quan hệ xã hội T1 đã quen biết với một đối tượng tên là T3 trú tại xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình (không xác định cụ thể được họ tên, địa chỉ) cũng là người sử dụng ma túy. T3 cho T1 số thuê bao di dộng 0789.032.6… để hai người lên lạc với nhau.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/10/2022, T3 sử dụng số điện thoại 0789.032.6… gọi đến số điện thoại 0915.157.4… của T1 hỏi mua 05 cây ma túy loại Heroine và 01 lạng ma túy đá (01 cây ma túy Heroine tương đương với 37 gam). T1 đồng ý bán cho T3 với giá 65.000.000 đồng, T3 hẹn đến ngày 27/10/2022, T1 mang ma túy về huyện K, tỉnh Ninh Bình để giao cho T3.

Khoảng 04 giờ sáng ngày 27/10/2022, Phan Văn T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Winner, biển kiểm soát 29M1-906….. mượn của chị gái là Phan Thị T4 và mang theo số tiền 56.000.000 đồng rồi đi đến huyện Mộc C, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy mang về huyện K, tỉnh Ninh Bình bán cho T3.

Khoảng 09 giờ sáng cùng ngày 27/10/2022, T1 đi theo đường Quốc lộ 6 hướng Hòa Bình đi M, Sơn La đến gần cây xăng cách thị trấn M, tỉnh Sơn La khoảng 10 km (thuộc tiểu khu T, thị trấn Nông trường M, Sơn La) nhìn thấy một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng một mình ở một ngã ba nhỏ cách cây xăng khoảng 100 mét, T1 đi xe đến gặp và hỏi “ở đây có chỗ nào bán ma túy không?”, người đàn ông hỏi T1 “Mua ma túy gì? Mua bao nhiêu?”, T1 nói “muốn mua 05 cây ma túy Heroine và 01 lạng ma túy đá”, người này đã đồng ý bán cho T1 số ma túy trên với số tiền 50.000.000 đồng.

Sau đó người đàn ông đi khoảng 10 phút quay lại đưa cho T1 01 chiếc mũ bảo hiểm trùm cằm và nói với T1 “trong đó có ma túy Heroine và ma túy đá”. T1 cầm mũ bảo hiểm kiểm tra thấy bên trong phần xốp của mũ bảo hiểm được khoét một lỗ chứa các túi nilon bên trong là chất bột dạng cục màu trắng và chất tinh thể màu trắng. T1 biết đó ma túy Heroine và ma túy đá nên để nguyên như ban đầu. T1 trả số tiền 50.000.000 đồng và đưa chiếc mũ bảo hiểm trùm cằm màu nâu của T1 cho người đàn ông còn T1 đội chiếc mũ bảo hiểm có cất giấu ma túy lên đầu và điều khiển xe máy quay về. T1 đi theo hướng thành phố H, tỉnh Hòa Bình về huyện N, tỉnh Ninh Bình theo Quốc lộ 12B qua thành phố T, tỉnh Ninh Bình để về huyện K, tỉnh Ninh Bình giao ma túy cho T3.

Trên đường đi T1 đã sử dụng điện thoại di động OPPO màu trắng, điện thoại Iphone màu vàng có các số thuê bao 0329.553.7… và số 0353.291.9… để liên lạc với số thuê bao 0789.032.6… của người tên T3 trao đổi về việc mua bán ma túy và hỏi thăm đường đến nhà T3 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình.

Khoảng 15 giờ ngày 27/10/2022, khi Phan Văn T1 đi đến khu vực xóm …, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình để đợi T3 đến giao ma túy thì bị Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang hành vi cất giấu ma túy trong chiếc mũ có chứa 01 gói hình hộp chữ nhật KT (10 x 8,5 x 2) cm được bọc bởi nhiều lớp nilon, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng; 01 gói (không xác định được hình dạng) được gói ngoài bằng giấy nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng buộc túm một đầu có KT (14 x 12) cm bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Tổ công tác đã thu giữ và tiến hành niêm phong mũ bảo hiểm cùng các gói nilon trong túi niêm phong ký hiệu là PS2 041375. Thu giữ và niêm phong 03 chiếc điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu OPPO màu trắng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng; 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu xanh) trong phong bì ký hiệu Q1; số tiền 5.200.000 đồng niêm phong trong phong bì ký hiệu Q2. Ngoài ra còn tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu Honda dán tem Winner, biển kiểm soát 29M1-906….; một số giấy tờ gồm: 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 0802210113…. mang tên Phan Văn T1; 01 giấy bán xe, tên người bán xe Nguyễn Văn H3, địa chỉ TDP … Đ, M, quận N, thành phố Hà Nội, tên người mua: Phan Thị T4, địa chỉ khu …, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Vũ Long G; 01 bản phô tô căn cước công dân số 001092004…, mang tên Nguyễn Vũ Long G.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Văn T1 tại khu …, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì có liên quan đến vụ án.

Cân xác định khối lượng số ma túy đã thu giữ của Phan Văn T1: chất bột dạng cục màu trắng trong gói hình hộp chữ nhật KT (10 x 8,5 x 2) cm là 176,61 gam; chất bột dạng cục màu trắng bên trong túi nilon có KT (14 x 12) cm là 29,18 gam; chất tinh thể màu trắng bên trong túi nilon không xác định hình dạng là 100,69 gam. Như vậy tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ của T1 là 306,48 gam.

Tại Kết luận giám định số 763/KL-KTHS-MT ngày 03/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

“Mẫu chất bột dạng cục màu trắng có tổng khối lượng là 205,79 gam, là ma túy loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng có khối lượng 100,69 gam là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tiến hành kiểm tra các điện thoại đã thu giữ của T1 trong đó có chiếc điện thoại OPPO màu trắng có sim 1 là số thuê bao 0353.291.9… và sim 2 có số thuê bao 0378.853.2… trong phần mềm kiểm tra lịch sử cuộc gọi và tin nhắn cho thấy giữa T1 và số thuê bao 0789.032.6… của người tên T3 có trao đổi nội dung liên quan đến việc mua bán ma túy.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã có công văn gửi Tập đoàn công nghiệp - Viễn thông quân đội Viettel, Ban khai thác mạng - Tổng công ty Hạ tầng mạng (VNPT Net), Công ty dịch vụ Mobiphone khu vực 4 - Tổng công ty viễn thông Mobiphone đề nghị cung cấp thông tin về các số điện thoại 0353.291.9…, 0378.853.2…, 0329.553.7…, 0915.157.4… và 0789.032.6.. cũng như lịch sử chi tiết cuộc gọi đi, đến, tin nhắn đi, tin nhắn đến trong thời gian từ 25/10/2022 đến 17 giờ 30 phút ngày 27/10/2022. Kết quả xác định: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 16 giờ 38 phút ngày 26/10/2022, số thuê bao 0789.032.6.. liên lạc nhiều lần với các thuê bao 0353.291.9…, 0329.553.7… và 0915.157.4… của T1, theo T1 khai là để trao đổi mua bán ma túy với người có tên là T3.

Tại cơ quan điều tra Phan Văn T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Xử lý vật chứng, tài sản đồ vật thu giữ:

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, dán tem Winner, biển kiểm soát 29M1-906…. thuộc sở hữu của chị Phan Thị T4 (là chiếc xe chị T4 giao cho T1 để đi lại chăm sóc mẹ đẻ là bà Phạm Thị X đang điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đ, tỉnh Phú Thọ). Chị T4 không biết việc T1 mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cùng với các giấy tờ liên quan đến sở hữu chiếc xe cho chị T4.

- Số tiền 5.000.000 đồng trong tổng số tiền 5.200.000 đồng thu giữ của T1 là tiền của chị T4 đưa cho T1 để mua thuốc cho bà Phạm Thị X, không liên quan đến vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T4 số tiền trên.

- 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Văn T1 sau khi có văn bản ủy quyền của T1, chị T4 đã nhận lại từ cơ quan điều tra.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-P1 ngày 16 tháng 5 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố Phan Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn T1 20 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27/10/2022; phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng với các vỏ gói niêm phong cụ thể: M1 = 173,18 gam; M2 = 28,01 gam đều là ma túy, loại Heroine; M3 = 99,08 gam là ma túy, loại Methamphetamine; một mũ bảo hiểm; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng; một chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu trắng, do bị cáo đã sử dụng những chiếc điện thoại trên làm công cụ, phương tiện liên lạc để mua bán ma túy.

- Trả lại cho bị cáo Phan Văn T1: Một chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu xanh và số tiền 200.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Phan Văn T1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa xác định hành vi phạm tội của bị cáo Phan Văn T1 bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an tỉnh Ninh Bình lập hồi 15 giờ 35 phút ngày 27/10/2022; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 157/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 09/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp tin video lưu giữ trong 02 đĩa DVD-R gửi giám định”; Kết luận giám định số 763/KL-KTHS-MT ngày 03/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng có tổng khối lượng là 205,79 gam, là ma túy loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng có khối lượng 100,69 gam là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ” và các vật chứng, tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích mua ma túy để bán kiếm lời, ngày 27/10/2022, Phan Văn T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29 M1-906.30 đến khu vực T, thị trấn Nông trường M, tỉnh Sơn La mua của một người đàn ông không quen biết số tiền 50.000.000 đồng được 205,79 gam ma túy loại Heroine và 100,69 gam ma túy loại Methamphetamine cất giấu trong chiếc mũ bảo hiểm đội trên đầu sau đó điều khiển xe mô tô về huyện K, tỉnh Ninh Bình với mục đích bán cho người đàn ông có tên là T3 (không biết họ, địa chỉ). Khi đến khu vực xóm …, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình thì bị Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Phan Văn T1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2......................

3......................

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao coca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

………

……….

e………

h) có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phan Văn T1 với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Việc Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ để chấp nhận vì bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và bị cáo có thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo lại có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ để áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, do đó đề nghị áp dụng pháp luật và mức hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình là có căn cứ đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Phan Văn T1 thuộc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, đã tác động rất xấu đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển bình thường của giống nòi, làm khánh kiệt về kinh tế của người sử dụng ma túy, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Do hám lợi, lười lao động để có tiền phục vụ cho nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội với mức độ đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân rất xấu đang có 02 tiền án về các tội “Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 141/2017/HS-ST ngày 29/9/2017 của Toà án nhân dân thành phố S, tỉnh Sơn La xác định bị cáo phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 chưa được xoá án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ bị cáo là ông Phan Văn C được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý thật nghiêm minh, cách ly bị cáo với đời sống xã hội ở mức cao nhất của loạt hình phạt tù có thời hạn mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo phạm tội vì mục đích tư lợi căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng với các vỏ gói niêm phong cụ thể: M1 = 173,18 gam; M2 = 28,01 gam đều là ma túy, loại Heroine; M3 = 99,08 gam là ma túy, loại Methamphetamine; một mũ bảo hiểm; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng; một chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu trắng. Do bị cáo đã sử dụng những chiếc điện thoại trên làm công cụ, phương tiện liên lạc để mua bán ma túy.

- Trả lại cho bị cáo Phan Văn T1: một chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu xanh và số tiền 200.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Trong vụ án này, T1 khai mua ma túy mang về huyện K, tỉnh Ninh Bình để bán cho người có tên là T3 ở xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. T3 sử dụng số điện thoại 0789.032.6… để gọi hỏi T1 mua 05 cây Heroine và 01 lạng ma túy đá, hẹn ngày 27/10/2022, T1 mang về huyện K, tỉnh Ninh Bình bán cho T3. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã tiến hành xác minh tại Công an xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình kết quả không xác minh được người tên T3 như T1 khai trên. Rút list số điện thoại 0789.032.6… tại Công ty dịch vụ Mobiphone khu vực 4, Tổng công ty viễn thông Mobiphone xác định số điện thoại đăng ký chủ thuê bao mang tên Hoàng Văn T5, sinh năm 1965, trú tại thôn C, xã T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Quá trình làm việc với ông Hoàng Văn T5 khai nhận không đăng ký, không sử dụng số điện thoại 0789.032.6…, ông T5 không quen biết ai tên là T3 nhà ở huyện K, tỉnh Ninh Bình và Phan Văn T1, sinh năm 1989 trú tại khu …, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ vì vậy Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Bình không có cơ sở xác minh làm rõ.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Phan Văn T1: T1 khai nhận số ma túy trên là mua của một người đàn ông không xác định họ tên, địa chỉ tại khu vực tiểu khu Ti, thị trấn Nông trường M, tỉnh Sơn La, do vậy Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Bình không đủ cơ sở xác minh làm rõ.

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo bị tuyên là có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn T1 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27/10/2022; phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng với các vỏ gói niêm phong cụ thể: Một túi niêm phong còn nguyên vẹn, trên mặt túi niêm phong ghi mẫu vật hoàn trả gồm: M1 = 173,18 gam; M2 = 28,01 gam đều là ma túy, loại Heroine; M3 = 99,08 gam là ma túy, loại Methamphetamine; Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Một hộp bìa cát tông được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên hộp bìa cát tông có ghi: Một mũ bảo hiểm trùm cằm nhiều màu và một mảnh bìa giấy có in chữ Chocopie thu giữ của Phan Văn T1. Một phong bì niêm phong ký hiệu B còn nguyên vẹn, niêm phong theo quy định của pháp luật. Trên mặt phong bì có ghi “Vỏ túi niêm phong ban đầu ký hiệu PS2 041375”. Một túi niêm phong ký hiệu PS2 2007487 còn nguyên vẹn, niêm phong theo quy định của pháp luật. Bên trong có các vỏ túi nilon đựng chất bột dạng cục màu trắng và tinh thể màu trắng đã thu giữ của bị cáo Phan Văn T1 được bỏ vào trong một túi nilon màu trắng, ký hiệu M4; hai vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu Q1, Q2.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng; một chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu trắng.

- Trả lại cho bị cáo Phan Văn T1: Một chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu xanh và số tiền 200.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Chi tiết như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

Tiếp tục quản lý số tiền 200.000 đồng hiện đang gửi tại tài khoản 3949.0.1054125.00000 Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình tại kho bạc Nhà nước tỉnh Ninh Bình theo Ủy nhiệm chi số 01 của Công an tỉnh Ninh Bình lập ngày 01/6/2023.

3. Án phí: Bị cáo Phan Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ