vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Văn M 02 (hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 11 năm 2022.

Tịch thu tiêu hủy: Tinh thể không màu trong 02 (hai) gói nylon (mỗi gói nylon để trong một gói giấy) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an Phường 12, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,6637g (không phẩy sáu sáu ba bảy gam), loại Me… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn M 02 (hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 11 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày: 31-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Tấn Chương

Ông Lê Hữu Trọng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: /2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1991 tại: tỉnh Kiên Giang; giới tính: Nam; Nơi thường trú: Khu phố Đông Q, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn C; con bà: Trương Thị Lệ X; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 15/7/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 (mười tám) tháng, đến ngày 18/10/2017 chấp hành xong; Ngày 02/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng, đến ngày 25/02/2020 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2022 (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 30/11/2022, Lê Văn M gặp Nguyễn Thanh H ở phường Tân Tạo, quận Bình Tân, tại đây M rủ H cùng đi đến Quận 4 để M gặp bạn có việc riêng thì H đồng ý. M điều khiển xe mô tô biển số 68B1-586.82 chở H đi đến đường Nguyễn Tất Thành, Quận 4 thì dừng lại và nói H xuống xe đứng chờ. Sau đó, M điều khiển xe đi được một đoạn thì gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) đứng ven đường Nguyễn Tất Thành, M hỏi mua ma túy thì người phụ nữ này đồng ý bán cho M 02 gói ma túy tổng hợp với giá 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy, M cầm 02 gói ma túy trên tay, điều khiển xe quay lại đón H và không nói cho H biết việc mua ma túy. Đến 19 giờ cùng ngày, M điều khiển xe chở H đến tại ngã tư Hồng Bàng – Nguyễn Thị Nhỏ, Phường 12, Quận 5 thì bị tổ tuần tra 363 yêu cầu dừng xe để kiểm tra do nghi vấn có liên quan đến ma túy. Qua kiểm tra, Công an phát hiện thu giữ trong tay trái của M có 02 gói giấy, bên trong mỗi gói giấy có 01 nylon chứa tinh thể không màu. M khai là ma túy tổng hợp dùng để sử dụng cho bản thân nên Công an thu giữ vật chứng và đưa về trụ sở Công an Phường 12, Quận 5 lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ: Tinh thể không màu trong 02 (hai) gói nylon (mỗi gói nylon để trong một gói giấy) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an Phường 12, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,6637g (không phẩy sáu sáu ba bảy gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong số 1419/22, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và cán bộ điều tra Nguyễn Thanh Tấn); 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, số Imei1: 865858052701468, số Imei2: 865858052701476; 01 (một) xe mô tô Honda Vision, biển số 68B1-58682, số khung: RLHJK0312NZ024063, số máy: JK03E5361068.

Tại bản Kết luận giám định số 7115/KL-KTHS ngày 08/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau: Tinh thể không màu trong 02 (hai) gói nylon (mỗi gói nylon để trong một gói giấy) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an Phường 12, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,6637g (không phẩy sáu sáu ba bảy gam), loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 19/CT-VKSQ5 ngày 06/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Văn M với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lê Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lê Văn M đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,6637g (không phẩy sáu sáu ba bảy gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo từng bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 lần, nhưng sau khi chấp hành xong, tái hòa nhập cộng đồng thì lại tiếp tục nghiện ma túy. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đối với người phụ nữ không rõ lai lịch, địa chỉ đã có hành vi bán ma túy cho bị cáo cất giữ để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5 tiếp tục điều tra, truy xét khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thanh H không biết bị cáo M cất giữ ma túy trong người và bị cáo M cũng không nói cho Nguyễn Thanh H biết bị cáo có cất giữ ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5 không xem xét xử lý đối với Nguyễn Thanh H là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Tinh thể không màu trong 02 (hai) gói nylon (mỗi gói nylon để trong một gói giấy) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an Phường 12, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,6637g (không phẩy sáu sáu ba bảy gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong số 1419/22, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và cán bộ điều tra Nguyễn Thanh Tấn). Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, số Imei1: 865858052701468, số Imei2: 865858052701476 là tài sản cá nhân của bị cáo M, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo M.

Xét 01 (một) xe mô tô Honda Vision, biển số 68B1-58682, số khung: RLHJK0312NZ024063, số máy: JK03E5361068 do bị cáo Lê Văn M đứng tên chủ sở hữu, bị cáo sử dụng làm phương tiện mua ma túy nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Văn M 02 (hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 11 năm 2022.

Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Tinh thể không màu trong 02 (hai) gói nylon (mỗi gói nylon để trong một gói giấy) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an Phường 12, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,6637g (không phẩy sáu sáu ba bảy gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong số 1419/22, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và cán bộ điều tra Nguyễn Thanh Tấn).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô Honda Vision, biển số 68B1-58682, số khung: RLHJK0312NZ024063, số máy: JK03E5361068.

Trả lại cho bị cáo Lê Văn M: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, số Imei1: 865858052701468, số Imei2: 865858052701476.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ