vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chảo A S - phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày 15 - 8 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Gông, Ông Thào A Chinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 28/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 04/8/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Chảo A S - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1952 tại huyện C, tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: Bản L1, xã X, huyện C, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không học; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chảo Diêu C (đã chết) và bà Tẩn U M (đã chết); Vợ Phàn Thị N – Sinh năm 1973 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 1998 bị TAND huyện Tủa Chùa xử phạt 14 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ về tội Hành nghề mê tín dị đoan tại Bản án số 16/HSST ngày 09/11/1998, bị cáo đã được xóa án tích.

Tạm giữ từ ngày 05/4/2023 đến ngày 14/4/2023, tạm giam: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/4/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Phàn Thị N - Sinh năm 1973. Nơi cư trú: Bản L1, xã X, huyện C, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/4/2023 bị cáo Chảo A S đi xe mô tô đeo biển kiểm soát 27B1 – 805.35 xuất phát từ nhà tại Bản L 1, xã X, huyện C lên tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C để để tìm mua ma túy sử dụng, khi đến khu vực nghĩa trang thuộc tổ dân phố Q, thị trấn T bị cáo có gặp một người phụ nữ dân tộc Thái, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ và hỏi mua được 01 gói ma túy được gói ngoài bằng 02 lớp nilon màu hồng với giá 100.000đồng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu gói ma túy trong cạp quần đùi phía sau đang mặc rồi đi xe mô tô quay về nhà. Đến 12 giờ 20 phút cùng ngày tại đoạn đường thuộc thôn S 2, xã X, huyện C bị cáo Chảo A S bị Tổ công tác Công an xã X bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói được gói ngoài bằng 02 lớp nilon màu hồng bên trong có các chất bột màu trắng thể rắn.

- 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đen – trắng, biển kiểm soát 27B1 – 805.35 xe cũ đã qua sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phàn Thị N trình bày xe mô tô bị thu giữ là tài sản chung của bà và bị cáo. Việc bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi mua ma túy bà không biết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/4/2023, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,165 gam; lấy 0,0714 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại 0,0936 gam.

Kết luận giám định số 612/KL - PC09 ngày 14/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu các cục chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Chảo A S gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine – có khối lượng 0,165 gam.

Cáo trạng số 16/CT - VKSHTC ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Chảo A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm o, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định, 01 vỏ bao niêm phong cũ, 02 mảnh nilon, 01 biển kiểm soát xe mô tô; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1/2 chiếc xe mô tô, trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 1/2 chiếc xe, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, khôngcóýkiến tranhluậnvớiđại diện Việnkiểm sát vàxin Hội đồngxétxử giảm nhẹhìnhphạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xét về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và bản kết luận giám định.

Có đủ cơ sở kết luận ngày 05/4/2023 bị cáo đã mua được 01 gói Heroine trị giá 100.000 đồng tại tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C với mục đích bị cáo mua Heroine để sử dụng. Sau khi mua được Heroine bị cáo cất giấu trong người, đến 12 giờ 20 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an xã X bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,165 gam Heroine cất giấu, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự, năm 1998 bị Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa xử phạt 14 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ về tội Hành nghề mê tín dị đoan, bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích. Tính đến ngày phạm tội bị cáo được coi là không có tiền án.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, mặt khác hiện nay bị cáo đã 71 tuổi, nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo" và " người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên theo quy định tại điểm o, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. [3] Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra và tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì, không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án:

Đối với 0,0936 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định là vật cấm tàng trữ; 02 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ bao niêm phong cũ; 01 biển kiểm soát xe mô tô 27B1 – 805.35 (do bị cáo nhặt được lắp vào xe) là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối chiếc xe mô tô tại phiên tòa đã làm rõ do bị cáo mua lại xe cũ của Sùng A H, trú tại Bản L 1, xã X vào năm 2022 và bị cáo đã sử dụng xe làm phương tiện để đi mua ma túy, nên cần tịch thu toàn bộ Sung vào ngân sách nhà nước.

Về ý kiến của Kiểm sát viên, đề nghị trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, HĐXX thấy rằng bị cáo đã cố ý sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, do đó HĐXX không chấp nhận ý kiến này của Kiểm sát viên. [6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần miễn toàn bộ án cho bị cáo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Chảo A S phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy ". 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm o, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Chảo A S 01 (một) năm tù, khấu trừ cho bị cáo 09 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 11(mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án. 3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,0936 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ bao niêm phong cũ; 01 biển kiểm soát xe mô tô 27B1 – 805.35.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đen – trắng; số khung: RL1DCH6L1AA534655; số máy: VZS152FMH534655 thu giữ của bị cáo Chảo A S.

Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa. 4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo:

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/8/2023).

Cỡ chữ