vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ

luật hình sự; của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DƯƠNG QUANG L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự ra
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27 /2023/HS-ST
Ngày 27 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Kim Liên

2. Bà Dƣơng Thị Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thƣ ký Tòa án nhân dân

huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông

Bùi Việt Hƣng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại Hội trƣờng xét xử Tòa án nhân dân

huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2022/TLST- HS, ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 141/2022/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: DƯƠNG QUANG L, sinh năm 1977

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dƣơng Quang T, sinh năm 1952 và bà Đồng Thị D, sinh năm 1954; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Dƣơng Thị H, sinh năm 1979, Có hai con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2006

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: + Tại bản án số 63/2008/HSST ngày 27/11/2008 của Tòa án

nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 27/9/2009, ngày 04/3/2009 chấp hành xong án phí Hình sự sơ thẩm.

+ Tại bản án số 79/2012/HSST ngày 12/9/2012 của của Tòa án nhân dân

huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 30/8/2014, ngày 06/11/2012 chấp hành xong án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo DƢƠNG QUANG L bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2022

đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967

Trú tại: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt)

2. Anh Dƣơng Văn P, sinh năm 1975

Trú tại: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/10/2022, tại khu vực xóm V, xã T,

huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Công an xã T phát hiện bắt quả tang DƢƠNG QUANG L (sinh năm 1977, trú tại Xóm Đ, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) về hành vi tàng trữ 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, Lợi khai nhận là ma túy loại Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với Lợi, thu giữ niêm phong vật chứng (ký hiệu A) theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành mở

niêm phong, cân xác định khối lƣợng số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lƣợng là 0,152 gam. Lấy toàn bộ niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1674 ngày 06/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình

sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Số chất bột dạng cục màu trắng trong niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lƣợng là 0,152 gam.

Tại Cơ quan điều tra, DƢƠNG QUANG L đã khai nhận do nghiện chất

ma túy nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/10/2022, Lợi đã đi xe ôm của một ngƣời lạ mặt từ khu vực xã X, huyện P đến khu vực phƣờng Lƣơng Sơn, thành phố Sông Công để tìm mua ma túy, tại đây Lợi gặp và mua của một ngƣời đàn ông không quen biết 200.000 đồng đƣợc 01 gói ma túy Heroine, sau đó Lợi cầm gói ma túy ở tay trái bắt xe ngƣời đi đƣờng xin đi nhờ về đến khu vực xõm Vũ Chấn, xã T, huyện P thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện bắt quả tang nhƣ nêu trên.

Lời khai của DƢƠNG QUANG L phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội

quả tang, lời khai của ngƣời chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và những chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập đƣợc có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

- 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, bên trong có

0,132 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 hiện đang đƣợc bảo quản tại kho vật chứng chờ xử lý.

Bản cáo trạng số: 31/CT-VKS-PB, ngày 17/01/2023 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo DƢƠNG QUANG L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo DƢƠNG QUANG L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38

của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo DƢƠNG QUANG L từ 30 đến 36 tháng tù.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2

Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1,

bên trong có 0,132 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản

án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét

xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ

quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tội

đúng nhƣ nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản bắt quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 08 giờ 30

phút ngày 28/10/2022, tại xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Công an xã T bắt quả tang DƢƠNG QUANG L (là ngƣời nghiện ma túy) về hành vi tàng trữ trái phép trên ngƣời 0,152 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo DƢƠNG QUANG L đã đủ yếu tố cấu thành

tội phạm, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích

mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)…

c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam.”

2….”

. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các

tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền

quyền lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý, gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phƣơng, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác, hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành

khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách

nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tƣợng nghiện chất ma túy, đã từng bị xét xử bằng

nhiều bản án. Thế nhƣng, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đƣờng phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu và coi thƣờng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên, khi lƣợng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét,

cân nhắc có một mức án tƣơng xứng với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo gây ra.

. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật

hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản

2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với vật chứng cấm tàng trữ, lƣu hành, vật chứng không có giá trị

gồm: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, bên trong có 0,132 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1, cần tịch thu tiêu hủy.

. Đối với ngƣời đã bán ma túy cho bị cáo Lợi, quá trình điều tra không

xác định đƣợc nhân thân, lai lịch của ngƣời này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có căn cứ mở rộng điều tra vụ án

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội về tội danh,

mức hình phạt, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

. Cần áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm

giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ

luật hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nƣớc theo quy định pháp luật.

. Thông báo về quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản

án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, pháp luật áp dụng:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ

luật hình sự;

- Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 329

của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo DƢƠNG QUANG L phạm tội “Tàng trữ

trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo DƢƠNG QUANG L 30 (Ba mƣơi) tháng

tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 10 năm 2022.

3. Ra Quyết định tạm giam bị cáo DƢƠNG QUANG L với thời hạn 45

(Bốn mƣơi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thƣ niêm phong còn

nguyên vẹn đƣợc dán kín có dấu đỏ có ký hiệu A1 ngoài bì thƣ có ghi hoàn trả 0,132 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ: DƢƠNG QUANG L, sinh năm 1977 – phạm tội về ma túy.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/

02/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo DƢƠNG QUANG L phải chịu

200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm, nộp sung quỹ Nhà nƣớc.

6. Thông báo quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo (DƢƠNG QUANG L),

báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ