vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 30/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A S 01 (một) năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/9/2022. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thườ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn A S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM PỒ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày: 30-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vàng A Hý

2. Ông Khoàng Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn A S; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974 tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Bản S, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở: Bản H, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tẩn Sày L (đã chết) và bà Lý Tả M (đã chết); Bị cáo có vợ là Lý Lù M1 và 02 người con; Tiền án: Có 01 tiền án (Ngày 18/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xử phạt 40 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại bản án số 59/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 23/02/2022, chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/9/2022, sau đó tạm giam từ ngày 29/9/2022 cho tới nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy An, sinh năm 1988 - Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

- Người làm chứng: Chảo Phẩy M, sinh năm 1946; địa chỉ: Bản S, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 25 phút, ngày 20/9/2022, tổ công tác Đồn Biên phòng C phối hợp với Công an huyện N đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản H, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên, phát hiện Tẩn A S đang đi bộ về hướng tổ công tác có biểu hiện vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau khi nghe tổ công tác giải thích, Tẩn A S đã tự giác lấy ở lỗ chun cạp quần trước bụng 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 02 gói nilon màu hồng được hơ lửa dán kín, mở bên trong đều chứa chất bột dạng nén màu trắng đục (nghi là Heroine), giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 02 gói vật chứng nêu trên.

Tại cơ quan điều tra Tẩn A S khai nhận: 02 gói nilon màu hồng chứa chất bột màu trắng đục thu giữ của Tẩn A S là Heroine. Nguồn gốc 02 gói Heroine này là do S mua của 01 người phụ nữ tên là Chảo Phẩy M ở bản S, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên với giá 100.000 đồng vào khoảng 18 giờ ngày 20/9/2022. Sau khi mua được 02 gói Heroine, Sú gói bằng nilon màu hồng, rồi cất giấu trong lỗ chun cạp quần đang mặc đi bộ về nhà ở bản H, xã C, huyện N thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại đồ vật, tài liệu ngày 21/9/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Tổng khối lượng 02 gói chất bột màu trắng đục thu giữ của Tẩn A S là 0,51 (không phẩy năm mươi mốt gam) gam, gửi giám định toàn bộ.

Tại Kết luận giám định số: 1280/KL-KTHS, ngày 28/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

“- 02 (hai) mẫu chất bột màu trắng đục thu giữ của Tẩn A S gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine”.

Tại phiên tòa Chảo Phẩy M vắng mặt, nhưng tại giai đoạn điều tra có lời khai như sau: Chảo Phẩy M biết Tẩn A S vì là người cùng bản S, nhưng M không thừa nhận đã gặp và bán ma túy cho S vào chiều ngày 20/9/2022. Tại biên bản đối chất ngày 14/11/2022 giữa Tẩn A S và Chảo Phẩy M, Sinh vẫn giữ nguyên lời khai của mình, S không chắc chắn là M có phải là người bán ma túy cho mình, vì khi thực hiện hành vi mua bán cả 02 bên không nhìn rõ mặt nhau.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSNP ngày 15/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Tẩn A S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Tẩn A S đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Tẩn A S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Tẩn A S từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Về vật chứng của vụ án là Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi mẫu giám định toàn bộ, cơ quan giám định không hoàn lại mẫu nên không đề nghị xử lý. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Tẩn A S nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Tẩn A S nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Tẩn A S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 18 giờ 25 phút, ngày 20/9/2022, Tẩn A S đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,51 (không phẩy năm mươi mốt) gam, được Sú cất giấu trong lỗ chun cạp quần đang mặc trên người, khi đang đi bộ tới khu vực bản H, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên. Nguồn gốc 02 gói Heroine này là do bị cáo mua của 01 người phụ nữ ở bản S, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên vào khoảng 18 giờ ngày 20/9/2022 với giá 100.000 đồng. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để bản thân sử dụng vì bị cáo là người nghiện ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tẩn A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện N vì ma túy không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân.

Về nhân thân: Bị cáo Tẩn A S xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, sống buông thả nên đã nghiện ma túy. Ngày 18/11/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xử phạt 40 (bốn mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 23/02/2022 bị cáo được Trại giam Yên Hạ cấp Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù. Sau khi trở về địa phương sinh sống, bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội trong vụ án này.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt giữ bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, ngày 23/02/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt 40 tháng tù tại bản án số 59/2019/HS-ST, ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên, đến ngày 20/9/2022 khi chưa được xóa án tích của bản án trước, bị cáo lại tiếp tục phạm tội trong vụ án này. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo vì hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị của người bào chữa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng: Vật chứng của vụ án là 0,51 (không phẩy năm mươi mốt) gam Heroine, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã gửi giám định toàn bộ khối lượng, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên sau khi giám định không hoàn lại mẫu, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án Tẩn A S khai đã mua Heroine của Chảo Phẩy M tại bản S, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của Chảo Phẩy M và tiến hành đối chất giữa bị cáo và Chảo Phẩy M nhưng không có căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Chảo Phẩy M. Do đó Viện kiểm sát không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc Dao) sống tại xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện

- xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A S 01 (một) năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/9/2022.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tẩn A S.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Tẩn A S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 30/01/2023./.

Cỡ chữ