- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cháng A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày: 13-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Phong
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Sầm Văn Nưỡng
Ông Vi Văn Thuy
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2023/TLST-HS ngày 03/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Cháng A T (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 01/01/1962; Tại huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Ch, xã Q, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cháng A Ch (đã chết) và bà Thào Thị D (đã chết); Có vợ là Vàng Thị M và có 05 người con, con lớn nhất 43 tuổi, con nhỏ nhất 18 tuổi; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/12/2022 đến ngày 17/12/2022, tạm giam từ ngày 17/12/2022 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go Loòng – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Giàng A Th; Sinh năm 1982, vắng mặt có lý do. Trú tại: Bản Ch, xã Q, huyện M, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/12/2022 Cháng A T bắt xe khách từ nhà ở bản Ch, xã Q đi xuống bản Quảng Lâm, xã Quảng Lâm để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến bản Quảng Lâm, T gặp và mua được 01 gói Heroine với giá 1.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau khi mua được Heroine, T cất giấu vào túi áo bên phải đang mặc trên người rồi đi bộ về nhà. Khi đi được một đoạn thì T gặp anh Giàng A Th, sinh năm 1982, trú tại bản Ch, xã Q, huyện M điều khiển xe mô tô đi đến, T xin đi nhờ Th về nhà. Đến 16 giờ 45 phút cùng ngày khi Giàng A Th điều khiển xe mô tô chở Cháng A T đến khu vực bản Trạm Púng, xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé thì bị tổ công tác 1266 Công an tỉnh Điện Biên, phối hợp với Công an xã Quảng Lâm phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói Heroine và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 27S1- 044.93.
Ngày 09/12/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, trích 0,1 gam để test nhanh chất ma túy và 0,47 gam làm mẫu vật gửi giám định và ra quyết định trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 19/KL-KTHS ngày 16/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Cháng A T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Cháng A T là 4,24 gam.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 27S1-044.93 cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Giàng A Th.
Bản cáo trạng số: 10/CT-VKSMN ngày 03/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Cháng A T để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Cháng A T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại sau khi trích giám định; Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, án phí và xử lý vật chứng. Về hình phạt, đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị xử phạt bị cáo 04 năm tù.
Tại phiên tòa, bị cáo Cháng A T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí với luận cứ bào chữa của người bào chữa cũng như luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Giàng A Th vắng mặt tại phiên tòa, trong đơn xét xử vắng mặt anh trình bày: Ngày 08/12/2022 anh có cho bị cáo đi nhờ xe, khi cho bị cáo đi nhờ xe, anh hoàn toàn không biết bị cáo cất giấu ma túy trên người. Hiện nay anh đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Nhé trả lại chiếc xe này, anh không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Giàng A Thanh. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai và ý kiến trong hồ sơ, xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người này theo Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên tòa bị cáo khai vào ngày 08/12/2022 bị cáo mua được 4,24 gam Heroine với giá tiền 1.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết ở bản Quảng Lâm, xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Mục đích bị cáo mua Heroin là để sử dụng vì nghiện ma túy. Sau khi mua được Heroine, bị cáo giấu vào túi áo mặc trên người rồi đi về nhà, trên đường về thì bị phát hiện bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định: Cháng A T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép ma túy với khối lượng là 4,24 gam Heroine.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt đối với bị cáo:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đề
nghị xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 thángtù, người bào chữa cho bị
cáo đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 04 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy đề
nghị xử phạt bị cáo của Đại diện viện kiểm sát và người bào chữa là có căn
cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp
nhận, xử phạt bị cáo như đề nghị của Người bào chữa và Đại diện Viện kiểm
sát.
Theo khoản 5 Điều 249 BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, không có tài sản gì có giá trị, là hộ nghèo (theo Giấy chứng nhận hộ nghèo ngày 01/01/2023 của UBND xã Quảng Lâm, tại bút lục số 116). Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra không xác định được người này là ai? Ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.
Đối với Giàng A Th: Quá trình điều tra đã làm rõ, khi cho bị cáo đi nhờ, anh Giàng A Th hoàn toàn không biết bị cáo giấu ma túy trên người. Do đó không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Th.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 4,24 gam Heroine, đã trích 0,47 gam giám định và 0,1 gam test chất ma túy (không hoàn lại mẫu), còn lại 3,67 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 27S1- 044.93. Quá trình điều tra đã làm rõ, khi cho bị cáo đi nhờ, anh Giàng A Th hoàn toàn không biết bị cáo giấu ma túy trên người. Do đó việc Cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Nhé trả lại chiếc xe này cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Giàng A Th là đúng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Về án phí: Xét thấy gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, đồng thời là đồng bào dân tộc thiểu số thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình Sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình Sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cháng A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cháng A T 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 08/12/2022.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 3,67 gam Heroine còn lại sau khi trích giám định và test nhanh chất ma túy là vật chứng vụ án.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/3/2023 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo .
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13.4.2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TA tỉnh); - VKSND huyện Mường Nhé; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Nhé; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Nhé; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA.H Mường Nhé; - Bị cáo; Người bào chữa; - Người có QLNVLQ; - THADS huyện Mường Nhé; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Phong |