vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 06/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Đào Văn H, Đoàn Văn M, Trần Đức T, Phạm Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Trần Đức T 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Giao bị cáo Trần Đức T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn H - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Đào Văn H, Đoàn Văn M, Trần Đức T, Phạm Văn V phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ Luật hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ Luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27 /2023/HS-ST
Ngày: 06-3-2023

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy

Bà Nguyễn Thị Di

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn Quốc Tín

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền – tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Mai Thị Thiên Lộc.

Ngày 06 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2023 về tội “Đánh bạc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 đối với:

Các bị cáo: 1. Đào Văn H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1978 tại: Tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)

Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Buôn bán. Cha: Đào Xuân N, sinh năm 1937; Nghề nghiệp: Không. Mẹ: Phạm Thị N1, sinh năm 1936; Nghề nghiệp: Không. Bị cáo là con út trong gia đình có bảy anh chị em. Vợ: Lê Thị T1, sinh năm 1979; Nghề nghiệp: Buôn bán. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo hiện đang được tại ngoại.

2. Trần Đức T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1963 tại: Tỉnh Nam Định. (Có mặt)

Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Buôn bán. Cha: Trần Đức Đ, sinh năm 1936; Nghề nghiệp: Không. Mẹ: Trần Thị T2 (đã chết). Bị cáo là con thứ sáu trong gia đình có chín anh chị em. Vợ: Trần Thị Y, sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Buôn bán (đã ly hôn). Bị cáo có 02 người con lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 36/HSST ngày 12/4/2018 của TAND huyện Long Điền xử phạt bị can Trần Đức T 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 16 tháng. Ngày 11/05/2019 chấp hành xong thời gian thử thách.

Bị cáo hiện đang được tại ngoại.

3. Đoàn Văn M, Giới tính: Nam, Sinh năm: 1969 tại: Tỉnh Quảng Bình (Có mặt)

Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12, Nghề nghiệp: Buôn bán. Cha: Đoàn ThA H1, sinh năm 1933; Nghề nghiệp: Không. Mẹ: Trần Thị V1, sinh năm 1934; Nghề nghiệp: Không. Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có năm anh chị em. Vợ: Trần Thị Kim A, sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Buôn bán. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2004.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo hiện đang được tại ngoại.

4. Phạm Văn V, Giới tính: Nam; Sinh năm: 1974 tại: Tỉnh Ninh Bình (Có mặt)

Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Cha: Phạm Văn V2, sinh năm 1949; Nghề nghiệp: Không. Mẹ: Trần Thị Y1, sinh năm 1951; Nghề nghiệp: Nội trợ. Bị cáo là con út trong gia đình có hai chị em. Vợ: Phạm Thị T2, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo hiện đang được tại ngoại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị Kim A, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)

2. Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1977; địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 22/11/2022, Đào Văn H, Đoàn Văn M, và Trần Đức T cùng cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu rủ nhau ăn sáng tại quán đầu hẻm ở nhà H thuộc Khu phố H, thị trấn L, huyện Đ. Sau khi ăn sáng xong, do trời mưa nên cả ba rủ nhau vào nhà của H ngồi uống trà, khoảng 30 phút sau, có Phạm Văn V cũng đến chơi nên cả bốn người rủ nhau đánh bài phỏm ăn tiền, cả bốn người đồng ý. Lúc này, H đi bộ ra tiệm tạp hóa để mua 01 cây bài trong đó có 10 bộ bài tây 52 lá, H lấy 01 bộ bài và lấy 01 cái mền trải ra chơi. Sòng bài bắt đầu chơi lúc 10 giờ gồm có H, V, T và M (ngồi theo vị trí kim đồng hồ).

Hình thức đánh bạc với hình thức đánh bài phỏm ăn tiền như sau:

Bộ bài tây 52 lá chia cho mỗi người 09 lá bài cho 04 người, riêng người chia bài ván đó sẽ được 10 lá và đánh đầu tiên, cứ mỗi khi kết thúc một ván bài thì ai tới nhất sẽ chia bài, sau khi chia bài xong, số bài còn lại sẽ để ở giữa làm bài tì để người chơi rút khi không ăn được lá bài của người bên cạnh. Phỏm là sự kết hợp giữa các lá bài có cùng chất theo chiều tiến lên hoặc 03 con số giống nhau (1 phỏm gồm có 7,8,9 cùng nước cơ, rô, chuồn, bích hoặc 03 lá bài cùng loại) sau khi rút bài xong thì người chơi xem lại bài trên tay có cạ để kết hợp các lá bài đã rút trên tay hay không sau đó đánh xuống cho người bên cạnh 01 cây bất kỳ để người ngồi cạnh xem có hợp với các phỏm trên tay có ăn được lá bài của người đánh hay không. Mỗi người sẽ đánh 04 vòng, sòng bạc quy ước nếu ăn được lá bài của người đánh vòng đầu tiên thì chung 20.000 đồng, ăn cây thứ 02 vòng 2 thì chung 40.000 đồng, ăn cây chốt chung 80.000 đồng, trường hợp nếu cho người bên cạnh ăn 03 cây (03 vòng) sẽ bị đền bài chung 300.000 đồng/1 ván. Sau khi kết thúc 04 vòng thì hạ bài, những cây còn lại không thuộc phỏm thì so điểm, nếu ai ít điểm thì tới nhất thắng 120.000 đồng (ai tới nhì chung 20.000 đồng, tới ba chung 40.000 đồng, tới cuối chung 60.000 đồng). Nếu trong ván có ai ù (ù thường) thì sẽ thắng 300.000 đồng (mỗi người chung 100.000 đồng), ù tròn (các bài trên tay đều là phỏm không dư cây nào) sẽ ăn gấp đôi là 600.000 đồng/1 ván, người nào không có phỏm (móm, cháy) sẽ chung 80.000 đồng, không cho tái phỏm. Trong quá trình đánh bạc không quy định thu tiền xâu, nếu có ai ù thì sẽ giảm cho H 20.000 đồng (H chỉ chung 80.000 đồng), nhưng chưa có ai ù.

Khi sòng bạc đang chơi đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an thị trấn Long Hải đến kiểm tra bắt quả tang. Qua làm việc, H, M, T và V đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Qua điều tra xác định số tiền các bị can dùng đánh bạc như sau:

- Đào Văn H mang theo số tiền 5.600.000 đồng để đánh bạc, H lấy ra 2.000.000 đồng để trên sòng bạc, còn lại 3.600.000 đồng H để trong ví da.

- Đoàn Văn M mang theo số tiền 2.450.000 đồng để đánh bạc, còn lại 1.000.000 đồng H để trong ví da.

- Trần Đức T mang theo số tiền 9.530.000 đồng để đánh bạc, T lấy ra 1.500.000 đồng để trên sòng bạc, còn lại 8.030.000 đồng T để trong ví da.

- Phạm Văn V mang theo số tiền 2.800.000 đồng để đánh bạc, V lấy ra 400.000 đồng để trên sòng bạc, còn lại 2.400.000 đồng V để trong ví da.

Tổng số tiền các bị cáo H, M, T và V dùng để đánh bạc trong ngày 22/11/2022 là 20.380.000 đồng (Hai mươi triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ và xử lý:

- Tổng số tiền đánh bạc 20.380.000 đồng (Hai mươi triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng), (trong đó số tiền 5.350.000 đồng thu trên chiếu bạc và 15.030.000 đồng là số tiền thu trong người các con bạc dùng vào việc đánh bạc).

- 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 09 bộ bài tây chưa qua sử dụng, cái mền là của H phục vụ việc đánh bạc.

- 01 cây bài có 10 bộ bài tây chưa qua sử dụng của T sử dụng vào việc đánh bạc. Đây là cây bài của T cho chị Lê Thị T1, sinh năm 1979 (là vợ của H), chị T1 để dành cho trẻ em chơi, vào ngày 22/11/2022, T dự định sử dụng vào việc đánh bạc.

Hiện tất cả các vật chứng trên chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý chờ xử lý.

Đối với 04 cái ví da; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màu đen là của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10S, màu đen và 01 xe mô tô biển số nhãn hiệu Honda BKS 35M1-0186, loại xe Wave S màu đen-xám là của V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu xA của H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 72S2-3628, loại xe Future Neo màu đỏ-đen là của M. Qua làm việc, xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc nên ngày 16/01/2023, cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã trao trả tài sản trên cho T, V, H và M.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo theo nội dung của bản cáo trạng và đề nghị:

- Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17; 58; 65 Bộ Luật hình sự đề N xử phạt bị cáo Trần Đức T từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Phạt bổ sung bị cáo T từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ Luật hình sự đề N xử phạt bị cáo Đào Văn H, Đoàn Văn M, Phạm Văn V từ 40.000.000đ đến 50.000.000đ.

- Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền dùng để đánh bạc là 20.380.000 đồng (Hai mươi triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng), (trong đó số tiền 5.350.000 đồng thu trên chiếu bạc và 15.030.000 đồng là số tiền thu trong người các bị cáo dùng vào việc đánh bạc).

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 09 bộ bài tây chưa qua sử dụng, cái mền là của H phục vụ việc đánh bạc. 01 cây bài có 10 bộ bài tây chưa qua sử dụng của T sử dụng vào việc đánh bạc; đây là cây bài của T cho chị Lê Thị T1, sinh năm 1979 (là vợ của H), chị T1 để dành cho trẻ em chơi, vào ngày 22/11/2022, T dự định sử dụng vào việc đánh bạc.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không có ý kiến tranh tụng; các bị cáo nói lời nói sau cùng đã ăn năn hối cải, hứa sẽ không tái phạm và xin được giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả trA luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; sau khi nghe quan điểm Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 22/11/2022, Công an thị trấn Long Hải, huyện Long Điền phát hiện, bắt quả tang tại nhà của Đào Văn H thuộc tổ 09 Khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đào Văn H, Trần Đức T, Đoàn Văn M và Phạm Văn V có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài phỏm ăn tiền với số tiền xác định dùng để đánh bạc trong ngày 22/11/2022 là 20.380.000 đồng (hai mươi triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng). Như vậy hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như sau: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này … mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc dưới hình thức đánh bài phỏm ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi của mình; Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền truy tố các bị cáo về tội dA và điều luật như trên là đúng người, đúng tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý Nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây dư luận xấu trong xã hội nên cần xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội; nhưng quá trình lượng hình có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức độ hậu quả của hành vi phạm tội gây ra để quyết định mức hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đào Văn H, Đoàn Văn M, Phạm Văn V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít ngiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Trần Đức T quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T là lao động duy nhất trong gia đình đang nuôi bố đang bị bệnh và nuôi con dưới 18 tuổi, vợ đã ly hôn, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

- Về nhân thân: Bị cáo Trần Đức T đã bị xét xử về tội “Đánh bạc” vào năm 2018; chấp hành xong năm 2019.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Đào Văn H, Đoàn Văn M, Phạm Văn V; Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có việc làm ổn định. Xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 35 của Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt chính là phạt tiền để thấy sự khoan hồng của pháp luật và cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo Trần Đức T phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có việc làm ổn định. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt chính là phạt tù nhưng cho hưởng án treo để thấy sự khoan hồng của pháp luật và cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đào Văn H, Đoàn Văn M, Phạm Văn V vì hình phạt chính là hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo này. Riêng bị cáo Trần Đức T hình phạt chính là phạt tù nhưng cho hưởng án treo nên hội đồng xét xử quyết định xử phạt bổ sung bị cáo T 20.000.000đ.

Đối với Đào Văn H mặc dù để cho các đối tượng tham gia đánh bạc ngay tại nhà của H. Tuy nhiên xét thấy, H không rủ rê, lôi kéo hoặc cho mượn, thuê nhà tổ chức đánh bạc lấy tiền xâu, bản thân H cũng tham gia đánh bạc nên không có cơ sở xử lý H về hành vi gá bạc.

Về vật chứng trong vụ án: - Số tiền 20.380.000 đồng là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 09 bộ bài tây chưa qua sử dụng, cái mền là của H phục vụ việc đánh bạc không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 cây bài có 10 bộ bài tây chưa qua sử dụng của T sử dụng vào việc đánh bạc. Đây là cây bài của T cho chị Lê Thị T1, sinh năm 1979 (là vợ của H), chị T1 để dành cho trẻ em chơi, vào ngày 22/11/2022, T dự định sử dụng vào việc đánh bạc, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 04 cái ví da; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màu đen là của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10S, màu đen và 01 xe mô tô biển số nhãn hiệu Honda BKS 35M1-0186, loại xe Wave S màu đen-xám là của V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu xA của H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 72S2-3628, loại xe Future Neo màu đỏ-đen là của M. Qua làm việc, xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc nên ngày 16/01/2023, cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã trao trả tài sản trên cho T, V, H và M là đúng quy định.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Đào Văn H, Đoàn Văn M, Trần Đức T, Phạm Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 65, khoản 3 Điều 321 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Đức T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 06-3-2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 35 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Đào Văn H 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 35 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Văn M 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 35 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn V 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Trần Đức T 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

Giao bị cáo Trần Đức T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 20.380.000đ (hai mươi triệu ba trăm tám mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001961 ngày 17 tháng 02 năm 2023 của cơ quan chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 09 bộ bài tây chưa qua sử dụng, cái mền của H; 01 cây bài có 10 bộ bài tây chưa qua sử dụng.

(Vật chứng trên hiện đang được cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 47/BB-CCTHADS ngày 01-02-2023).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 N quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Đào Văn H, Đoàn Văn M, Trần Đức T, Phạm Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06-3-2023), các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để yêu cầu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ