- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo LQT; bị cáo LVC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày: 23 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Trọng Kim
Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: ông Bùi Chí Bảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát Viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2023/TLST-HS, ngày 19/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28A/2023/QĐXXST-HS ngày 08/5/2023.
Vụ án được diễn ra tại điểm cầu trụ sở TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (điểm cầu trung tâm) và điểm cầu tại nhà tạm giữ- Công an huyện Đức Linh (điểm cầu thành phần).
Đối với các bị cáo:
1. LQT, sinh năm: 1999.
Nơi đăng ký HKTT: thôn 2, xã ĐH, huyện ĐL, tỉnh BT; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lơ xe; Trình độ học vấn: 6/12
Tiền sự, Tiền án: chưa.
Cha: LVM, sinh năm: 1965; mẹ: TTV, sinh năm: 1967 trú tại thôn 2, xã ĐH, huyện ĐL, tỉnh BT.
Gia đình có 03 anh em, LQT là con lớn trong gia đình.
Bị cáo bị bắt ngày 06/01/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện ĐL. (Có mặt tại điểm cầu nhà tạm giữ Công an huyện ĐL)
2. LVC; sinh năm: 1990.
Nơi đăng ký HKTT: thôn 2, xã VH, huyện ĐL, tỉnh BT.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao
động tự do; Trình độ học vấn: 10/12
Tiền sự, Tiền án: chưa
Nhân thân:
-Ngày 18/06/2009 bị Chủ tịch UBND huyện ĐL ra Quyết đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 18 tháng.
-Ngày 01/9/2010 bị Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, TP.HCM xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội cướp giật tài sản theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 sữa đổi bổ sung 2009.
-Ngày 15/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện ĐL xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đuổi bổ sung năm 2017. Chấp hành xong ngày 05/11/2020
Cha: LVA, sinh năm: 1962; mẹ: PTT, sinh năm: 1967 trú tại thôn 2, xã VH, huyện ĐL, tỉnh BT.
Gia đình có 04 anh em, LVC là con thứ ba trong gia đình.
Con: Mai Lê Viết Tài, sinh năm : 2016
Bị cáo bị bắt ngày 06/01/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện ĐL. (Có mặt tại điểm cầu nhà tạm giữ Công an huyện ĐL)
Người làm chứng:
- PVD, sinh năm: 1988 (vắng)
Nơi cư trú: Xóm 3, thôn 2, xã GA, huyện TL, tỉnh BT.
-NĐH , sinh năm: 1990 (vắng)
Nơi cư trú: Thôn 2, xã ĐH, huyện ĐL, tỉnh BT.
Người hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu nhà tạm giữ Công an huyện
ĐL thành phần:
Người tiến hành tố tụng: ông Nguyễn Thanh Sang- Thư ký TAND huyện ĐL
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06/01/2023, Công an xã ĐH tổ chức tuần tra bảo đảm an ninh trật tự trên đường hẻm thuộc tổ 9, thôn 3, xã ĐH, khi đến trước một căn nhà (không có số) có hai nam thanh niên đang trước cửa. Thấy lực lượng công an đến một đối tượng đứng ngoài bỏ chạy; nghi vấn nên cơ quan công an giữ đối tượng còn lại. Qua làm việc đối tượng khai tên là LQT, sinh năm: 1999, trú tại thôn 2, ĐH, ĐL, BT. Tiến hành kiểm tra cơ quan công an phát hiện LQT đang cầm trên tay 01 (một) bịch nylon được hàn kín một đầu có khóa kéo bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 02 (hai) bịch nylon hàn kín một đầu có khóa kéo bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng ở túi quần bên bên trái. LQT khai nhận cả 03 bịch nylon chứa chất tinh thể màu trắng kể trên là ma túy của LQT. Sau đó, cơ quan công an tiến hành vào nhà nơi LQT đang đứng trước phát hiện có hai nam thanh niên đang ở trong nhà, gồm: LVC, sinh năm: 1990, trú tại thôn 2, VH, ĐL, BT và PVD, sinh năm 1988, trú tại thôn 2, xã GA, TL, BT. Tiến hành kiểm tra tại chỗ của 02 đối tượng này cơ quan công an phát hiện dưới gối của LVC đang nằm có 27 (hai mươi bảy) đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu có kích thước 01x02cm, bên trong có chứa chất màu trắng, LVC khai nhận là Heroin của LVC mua về để sử dụng. Công an xã ĐH tiến hành lập biên bản sau đó đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.
Kết quả điều tra vụ án
LQT và LVC là 02 đối tượng sử dụng ma túy, cùng thuê phòng trọ ở cùng nhau tại tổ 9, thôn 3, xã ĐH, ĐL, BT. LQT sử dụng ma túy loại ma túy đá còn LVC sử dụng ma túy loại Heroin. Vào ngày 04/01/2023, LQT có ý định sử dụng ma túy nên đã liên lạc Hân, nhà ở xã GA, huyện TL đặt mua 1.000.000 đồng (một triệu đồng) ma túy đá để về sử dụng. Hân đồng ý bán ma túy cho LQT và hẹn LQT đến xã GA để giao ma túy. LQT điều khiển xe môtô đến cổng chào xã GA rồi gọi điện thoại cho Hân mang ma túy ra. Khoảng 10 phút sau Hân đến đưa cho LQT 01 bịch ma túy, LQT cầm ma túy đồng thời cũng đưa tiền cho Hân, sau đó cả hai cùng rời đi. LQT chạy xe về phòng trọ tại thôn 3, xã ĐH, huyện ĐL. Sau khi mang ma túy về từ ngày 04/01/2023 cho đến tối ngày 05/01/2023 LQT lấy ma túy ra sử dụng 03 lần. Sau khi sử dụng ma túy xong số ma túy còn lại LQT chia ra thành 02 bịch nhỏ và cất giấu tại phòng trọ sau đó đi ngủ.
Đối với Lên Viết Chiến vào khoảng 21 giờ, ngày 05/01/2023, LVC nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên điều khiển xe môtô đi đến khu vực ngã ba ông Đồn thuộc huyện XL, tỉnh ĐN để tìm mua ma túy mang về sử dụng. Đến nơi, LVC gặp một người quen tên là Cường, LVC nhờ Cường đi mua ma túy giúp LVC và đưa cho Cường số tiền 1.050.000 đồng (một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng), trong đó 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền mua ma túy và 50.000 đồng (năm mười ngàn đồng) trả công cho Cường. Cường đồng ý rồi cầm tiền rời đi. LVC đứng tại chỗ đợi. Một lúc sau Cường quay lại đưa cho Chiến 28 “tép” Heroin. LVC cầm lấy ma túy rồi điều khiển xe chạy về phòng trọ ở xã ĐH. Sau khi về phòng trọ LVC lấy 01 “tép” ma túy Heroin ra sử dụng hết. Sử dụng ma túy xong LVC cất giấu 27 “tép” ma túy còn lại ở dưới chiếc gối rồi nằm gối đầu lên ngủ. Đến khoảng 10 giờ sáng ngày 06/01/2023, LQT và LVC đang ngủ có PVD, sinh năm 1988, thôn 2, xã GA, TL qua chơi, vừa lúc này bên ngoài cửa có một người tên Hiếu, nhà ở xã ĐH, huyện ĐL đến đứng trước cửa gọi tìm LQT, Duy thấy vậy nên gọi LQT thức dậy đi ra ngoài gặp Hiếu. Hiếu xin LQT 01 bịch ma túy 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) để về sử dụng, LQT đồng ý rồi đi vào trong phòng trọ để lấy ma túy. LQT lấy 02 bịch ma túy cắt bịch ra sau đó chiết một ít ma túy từ 02 bịch làm thành thêm 01 bịch ma túy nữa, tổng cộng là 03 bịch ma túy, gồm 02 bịch ma túy cũ và 01 bịch mới vừa chiết ra. Sau đó, LQT cất 02 bịch ma túy cũ vào túi quần bên trái và cầm bịch ma túy vừa chiết ra trên tay rồi đi ra ngoài để đưa cho Hiếu. Khi LQT vừa ra đến cửa thì có cơ quan công an tuần tra đi qua. Thấy cơ quan công an đến Hiếu bỏ chạy thoát, LQT bị cơ quan công an dừng lại kiểm tra phát hiện 03 bịch ma túy kể trên. Sau đó, cơ quan công an tiến hành đi vào trong kiểm tra phòng trọ của LQT và LVC. Lúc này LVC vẫn đang còn ngủ nằm trên chiếc gối có ma túy. Cơ quan công an gọi LVC dậy sau đó kiểm tra tại vị trí của Chiến phát hiện 27 “tép” ma túy dưới gối. Quá trình điều tra đến thời điểm hiện tại LQT và LVC khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã kể trên.
Tại Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BT kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng bên trong 03 (ba) bịch nylon được hàn kín một đầu có khóa kéo, mỗi gói có cùng kích thước 07cm x 3,5cm (ký hiệu M1), có khối lượng 0,8773 gam; là Methamphetamine.
- Chất màu trắng bên trong 27 (hai mươi bảy) đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu cùng kích thước 02cm x 01 cm (ký hiệu M2), có khối lượng 1,8669 gam; là Heroin.
Vật chứng thu giữ:
-Ba (03) gói nylon đều được hàn kín và khóa bằng dây kéo một đầu, mỗi gói có kích thước (07x3,5)cm và 0,8035 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì gián giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 35/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.
-Hai mươi bảy (27) đoạn ống nhựa màu trắng, đều hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa có kích thước (02x01)cm đều đã cắt lấy mẫu và 1,7197 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì gián giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 35/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.
Về nguồn gốc số ma túy Thiện khai mua của đối tượng tên Hân theo lời khai của LQT Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐL đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả về nhân thân lai lịch của đối tượng; Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Về nguồn gốc số ma túy Chiến khai mua của đối tượng tên Cường theo lời khai của LVC Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐL đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả về nhân thân lai lịch của đối tượng; Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSĐL-HS ngày 19/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐL truy tố LQT, LVC về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐL giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo:
-LQT mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
- LVC mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
-Ba (03) gói nylon đều được hàn kín và khóa bằng dây kéo một đầu, mỗi gói có kích thước (07x3,5)cm và 0,8035 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì gián giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 35/1có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.
-Hai mươi bảy (27) đoạn ống nhựa màu trắng, đều hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa có kích thước (02x01)cm đều đã cắt lấy mẫu và 1,7197 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì gián giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 35/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xét xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Phần thủ tục: Tại phiên tòa người làm chứng PVD và NĐH vắng mặt. Việc vắng mặt anh Duy, anh Hải không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra lấy lời khai đúng quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Do đó việc vắng mặt của anh Duy, anh Hải không làm ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh D, anh H là đúng quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, kết luận giám định, bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06/01/2023, tại tổ 9, thôn 3, xã ĐH Công an huyện ĐL phối hợp với Công an xã ĐH bắt quả tang LQT có hành vi tàng trữ trái phép ma túy có khối lượng: 0,8773 gam; là Methamphetamine và LVC có hành vi tàng trữ trái phép ma túy có khối lượng: 1,8669 gam; là Heroin.
Hành vi tàng trữ phép chất ma túy của các bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy trong thanh thiếu niên, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm. Bản thân các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, việc tàng trữ trái phép chất ma túy là nguyên nhân gieo rắc hiểm họa cho cộng đồng vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc nhưng đã bất chấp tất cả. Điều đó, chứng tỏ các bị cáo là những người coi thường pháp luật.
Hành vi nêu trên của các bị cáo LQT, LVC đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017. Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSĐL-HS ngày 19/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐL đã truy tố LQT, LVC với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, góp phần làm xấu hơn tình hình tội phạm về ma túy đang diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện ĐL. Các bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, qua đó thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội cũng như để bị cáo có đủ thời gian cai nghiện.
- Đối với bị cáo LQT:
+Tiền sự, Tiền án: chưa.
+Xét về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
+Tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
-Đối với bị Cáo LVC:
Tiền sự, Tiền án: chưa
Nhân thân:
-Ngày 18/06/2009 bị Chủ tịch UBND huyện ĐL ra Quyết đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 18 tháng.
-Ngày 01/9/2010 bị Tòa án nhân dân quân Tân Bình xử phạt 3 năm 6 tháng từ về tội cướp giật tài sản theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 sữa đổi bổ sung 2009.
-Ngày 15/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện ĐL xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đuổi bổ sung năm 2017. Chấp hành xong ngày 05/11/2020
+Xét về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
+Xét về tình tiết giảm nhẹ bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tương ứng với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào lượng tàng trữ ma túy và nhân thân của các bị cáo ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt LVC cao hơn LQT và áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, đủ dài nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răng đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt các bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
-Ba (03) gói nylon đều được hàn kín và khóa bằng dây kéo một đầu, mỗi gói có kích thước (07x3,5)cm và 0,8035 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì gián giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 35/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.
-Hai mươi bảy (27) đoạn ống nhựa màu trắng, đều hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa có kích thước (02x01)cm đều đã cắt lấy mẫu và 1,7197 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì gián giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 35/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.
Đối với đối tượng tên Hân và Cường theo lời khai của bị cáo LQT và LVC thì Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐL đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả và nhân thân lai lịch của các đối tượng, nên không truy tố là phù hợp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện ĐL, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐL được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí HSST: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 332, 333 của bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
1. Tuyên bố: Bị cáo LQT; bị cáo LVC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo:
- LQT 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 06/01/2023.
- LVC 02(hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 06/01/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
-Ba (03) gói nylon đều được hàn kín và khóa bằng dây kéo một đầu, mỗi gói có kích thước (07x3,5)cm và 0,8035 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì gián giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 35/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.
-Hai mươi bảy (27) đoạn ống nhựa màu trắng, đều hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa có kích thước (02x01)cm đều đã cắt lấy mẫu và 1,7197 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì gián giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 35/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.
3.Về án phí HSST: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 23/5/2023, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh BT; - VKSND, Công an huyện Đức Linh; - TTLLTP-QG, Sở Tư pháp BT; - Chi cục THADS huyện Đức Linh ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn Phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Xuân Thuận |