vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 30/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thúy H và bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội "Đánh bạc".

Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của BLHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị P và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thúy H và bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày: 30/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ngọc, ông Thái Khắc Thiệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hợi - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo.

1. Họ và tên: Nguyễn Thị P, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1976 tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm 01, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn Đào (đã chết), con bà Lê Thị Lan, sinh năm 1949; Chồng là Bùi Nguyên Thanh, sinh năm 1977; Con: 02 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Quyết định số 2352/QĐ-UBND-XPHC ngày 22/10/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính với hình thức phạt tiền, về hành vi đánh bạc, bị cáo P đã chấp hành xong ngày 25/10/2019; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2022 đến ngày 27/12/2022 hiện đang bị áp dụng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Họ và tên: Phạm Thị Thúy H, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1976, tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 3, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Phạm Đức M (đã chết), con bà Trần Thị Ngoạt, sinh năm: 1951; Chồng là: Hoàng Văn H (đã chết); con có 01 người con sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2021 đến ngày 27/12/2022. Hiện đang bị áp dụng biện biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Hoàng Ngọc D, sinh năm 1980. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Xóm 02, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An

2. Chị Lê Thị T, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Xóm 01, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 16/12/2022, bị cáo Nguyễn Thị P đã căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền bắc, mở thưởng hàng ngày để thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh lô, đề. Cách thức đánh như sau: Đối với “số đề”: Người chơi sẽ chọn một hoặc nhiều số từ 00 đến 99 và đặt mức tiền cược cho mỗi số. Nếu số đã chọn trùng với 2 chữ số cuối cùng “giải đặc biệt” của kết quả xổ số kiến thiết miền bắc trong ngày đó thì “trúng đề”. Tỷ lệ thắng cược là 1 ăn 70, nghĩa là nếu người chơi trúng đề thì bị cáo P phải thanh toán số tiền gấp 70 lần số tiền mà người chơi đã bỏ tiền ra mua số đề đó; ngược lại nếu người chơi không trúng thì người chơi bị mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra để mua số đề; Đối với “số lô”: Người chơi sẽ chọn một hoặc nhiều số từ 00 đến 99 và đặt điểm cược cho mỗi số. Nếu số đã chọn trùng với 2 chữ số cuối cùng các giải (từ “giải đặc biệt” đến “giải bảy”) của kết quả xổ số kiến thiết miền bắc trong ngày đó thì “trúng lô”. Quy ước 1 (một) điểm lô tương đương số tiền 22.500 (hai mươi hai nghìn năm trăm) đồng, nếu thắng cược thì 1 điểm lô ăn 80.000 (tám mươi nghìn) đồng. Nếu đánh một con lô nhưng nó lại xuất hiện nhiều lần ở 2 số cuối cùng của các giải thì số tiền trúng được nhân theo số lần đó; ngược lại nếu người chơi không trúng thì mất toàn bộ số tiền người chơi đã bỏ ra để mua số lô; Đối với “số ba càng”: Người chơi sẽ chọn 3 (ba số) bất kỳ và đặt mức tiền cược cho mỗi số. Nếu số đã chọn trùng với 3 chữ số cuối cùng “giải đặc biệt” của kết quả xổ số kiến thiết miền bắc trong ngày đó thì “trúng ba càng”. Tỷ lệ thắng cược là 1 ăn 400, nghĩa là nếu người chơi trúng đề thì Nguyễn Thị P phải thanh toán số tiền gấp 400 lần số tiền mà người chơi đã bỏ tiền ra mua số ba càng đó; ngược lại nếu người chơi không trúng thì người chơi bị mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra để mua số ba càng. Với cách đánh à quy ước như trên thì bị cáo đã thực hiện việc đánh bạc cụ thể như sau:

Khoảng 17 giờ 27 phút, ngày 16/12/2022, anh Hoàng Ngọc D, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1980, trú tại xóm 2, xã Đ, huyện Đ, Nghệ An sử dụng điện thoại di động sim số 0369775576 nhắn tin cho bị cáo Nguyễn Thị P với nội dung “Đề 54-45, con 1trăm ngàn”, nghĩa là anh D muốn đánh bạc với bị cáo P các số đề 54, 45 mỗi con 100.000 (Một trăm nghìn đồng). Bị cáo P đã nhắn tin lại cho anh D với nội dung “R” có nghĩa là đã đồng ý. Căn cứ kết quả xổ số miền Bắc ngày hôm đó, anh D không trúng. Tổng số tiền anh D đánh bạc với bị cáo P là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng; Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 16/12/2022, chị Lê Thị T, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1990, trú tại xóm 1, xã Đ, huyện Đ, Nghệ An sử dụng điện thoại sim số 0985819388 nhắn tin cho bị cáo Nguyễn Thị P với nội dung “Đ 05.50 25K”, nghĩa là chị T muốn đánh với bị cáo P các số đề 05, 50 mỗi con 25.000 (hai mươi lăm nghìn đồng). Bị cáo P đã nhắn tin lại cho chị T với nội dung “R” có nghĩa là đã đồng ý. Ngày hôm đó, chị Lê Thị T không trúng. Số tiền chị Lê Thị T đánh bạc với bị cáo P là 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng; Đến khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 16/12/2022, người đàn ông tên Huy (chưa rõ địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0387288805 nhắn tin cho bị cáo P với nội dung “Lô 99, 00, 66, 05, 50, 10, 01, 92, 29, 16, 61, 02, 20 x3đ”, nghĩa là người đàn ông tên Huy muốn đánh với Phượng các số lô: 99, 00, 66, 05, 50, 10, 01, 92, 29, 16, 61, 02, 20 mỗi số 3(ba) điểm tương ứng với số tiền là 877.500 (Tám trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm) đồng. Bị cáo P đã nhắn tin lại cho Huy với nội dung “R” có nghĩa là đã đồng ý. Ngày hôm đó, người đàn ông tên Huy trúng số lô 01, 61, 99 với số tiền trúng tương ứng là 720.000 (bảy trăm hai mươi nghìn) đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.597.500 (Một triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm) đồng. Ngoài ra, trong ngày 16/12/2022, bị cáo P còn nhận ghi số lô, số đề, ba càng của một số người nữa bằng hình thức ghi vào những mảnh giấy màu trắng, nhưng bị cáo P không nhớ cụ thể là bao nhiêu người, cũng không biết rõ nhân thân, lai lịch của những người này và số lô, số đề, số ba càng mà từng người đã ghi. Cụ thể bị cáo P đã nhận ghi: số lô 95, 59, 62 mỗi số 05 điểm, số lô 98, 97, 05, 20 mỗi số 15 điểm, số lô 77, 38, 83, 93, 74, 72 mỗi số 20 điểm, số lô 67, 81, 01, 03 mỗi số 50 điểm, số đề 88, 67, 76 mỗi số 20.000 (Hai mươi nghìn) đồng; số đề 51 với số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, số đề 15 với số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, số đề 03, 30, 02, 20 mỗi số 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng; số ba càng 830, 803 mỗi số 20.000 (Hai mươi nghìn) đồng; số đề 03, 30 mỗi số 165.000 (Một trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng, số đề 31, 13, 60, 06 mỗi số 30.000 (Ba mươi nghìn) đồng, số ba càng 130, 103 mỗi số 20.000 (Hai mươi nghìn) đồng, số ba càng 730 với số tiền 5000 (Năm nghìn) đồng. Số tiền đánh bạc giữa bị cáo P với những người này là: 10.182.500 (Mười triệu một trăm tám mươi hai nghìn năm trăm) đồng. Ngày hôm đó, những người này trúng: 05 điểm số lô 95, 20 điểm số lô 83, 50 điểm số lô 01 với số tiền trúng là 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Như vậy tổng số tiền đánh bạc là 16.182.500 (mười sáu một trăm tám mươi hai nghìn năm trăm) đồng.

Sau khi nhận ghi số lô, số đề, số 3 càng trong ngày 16/12/2022 nói trên bị cáo Nguyễn Thị P tổng hợp lại rồi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C3, gắn sim số 0338546131 nhắn tin chuyển gửi cho bị cáo Phạm Thị Thúy H, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1976, trú tại xóm 2, xã Đ, huyện Đ, Nghệ An qua số điện thoại 0912002153 để hưởng tiền “hoa hồng” (tiền công ghi số lô, đề, ba càng) với tỷ lệ như sau: Đối với "số đề" và "số ba càng" khi chuyển cho Hằng, Phượng được trích số tiền bằng 25% tổng số tiền thu được từ việc ghi "số đề", "số ba càng". Đối với mỗi điểm lô chuyển cho Hằng, Phượng chỉ phải thanh toán số tiền 22.000 đồng/1 điểm lô (Hai mươi hai nghìn đồng trên một điểm lô). Cụ thể, bị cáo Nguyễn Thị P đã chuyển gửi cho bị cáo Phạm Thị Thúy H các số lô, số đề, số ba càng như sau:

Vào khoảng 17 giờ 53 phút, ngày 16 tháng 12 năm 2022, bị cáo Nguyễn Thị P sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C3, màu hồng đen, gắn sim số 0338546131 gửi tin nhắn đến số điện thoại 0912002153 của bị cáo Phạm Thị Thúy H với nội dung: “T1 lo 95, 59, 62x5d, 98, 97, 05, 20x15d, 77, 38, 83, 93, 74, 72x20d, 67, 81, 01, 03x50d. De 88, 67, 76x20n 45, 54x100n, 51x300n, 15x 200n, 03, 30, 02, 20x50n, 830, 803x20n. Nghĩa là bị cáo P muốn đánh với bị cáo H các số lô 95, 59, 62 mỗi số 05 điểm, số lô 98, 97, 05, 20 mỗi số 15 điểm, số lô 77, 38, 83, 93, 74, 72 mỗi số 20 điểm, số lô 67, 81, 01, 03 mỗi số 50 điểm; Số đề 88, 67, 76 mỗi số 20.000 (Hai mươi nghìn) đồng, số đề 45, 54 mỗi số 100.000 (Một trăm nghìn) đồng, số đề 51 với số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, số đề 15 với số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn ) đồng, số đề 03, 30, 02, 20 mỗi số 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng, số ba càng 830, 803 mỗi số 20.000 (Hai mươi nghìn) đồng. Tổng số tiền 9.690.000 (chín triệu sáu trăm chín mươi nghìn) đồng. Sau khi nhận được tin nhắn của bị cáo P, bị cáo H nhắn tin lại cho bị cáo P với nội dung; “1” nghĩa là đồng ý. Trong tin nhắn này Phượng trúng: 05 điểm số lô 95, 20 điểm số lô 83, 50 điểm số lô 01 với số tiền trúng tương ứng là 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Như vậy số đánh bạc trong tin nhắn này là 15.690.000 (mười lăm triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng.

Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo Nguyễn Thị P tiếp tục sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C3, màu hồng đen, gắn sim số 0338546131 gửi tin nhắn đến số điện thoại 0912002153 của bị cáo Phạm Thị Thúy H với nội dung: “T2 lô 99, 00, 66, 05, 50, 10, 01, 92, 29, 16, 61, 02, 20x3. De 03, 30x165n, 31, 13, 60 06x30n, 130, 103x20n, 730x5n”. Nghĩa là Phượng muốn đánh với Hằng số lô 99, 00, 66, 05, 50, 10, 01, 92, 29, 16, 61, 02, 20 mỗi số 03 điểm, số đề 03, 30 mỗi số 165.000 (Một trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng, số đề 31, 13, 60, 06 mỗi số 30.000 (Ba mươi nghìn) đồng, số ba càng 130, 103 mỗi số 20.000 (Hai mươi nghìn) đồng, số ba càng 730 với số tiền 5.000 (Năm nghìn) đồng, tương ứng với số tiền 1.353.000 (một triệu ba trăm năm mươi ba nghìn) đồng. Bị cáo H nhắn tin lại cho bị cáo P với nội dung; “1” nghĩa là đồng ý. Trong tin nhắn này bị cáo P trúng số lô 01, 61, 99 với số tiền trúng tương ứng là 720.000 (bảy trăm hai mươi nghìn) đồng. Số đánh bạc trong tin nhắn này là 2.073.000 (hai triệu không trăm bảy mươi ba nghìn) đồng.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị P và Phạm Thị Thúy H vào ngày 16/12/2022 là: 15.690.000 (mười lăm triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng + 2.073.000 (hai triệu không trăm bảy mươi ba nghìn) đồng = 17.763.000 (Mười bảy triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn) đồng.

Đến Khoảng 18 giờ, 40 phút, ngày 16/12/2022, tổ công tác Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An kiểm tra hành chính nhà bị cáo Nguyễn Thị P tại Xóm 03, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Quá trình kiểm tra đã phát hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh số lô, số đề nên đã lập biên bản về hành vi phạm tội của bị cáo P. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét chỗ ở của bị cáo P. Quá trình kiểm tra hành chính và thi hành Lệnh khám xét nhà đã phát hiện và thu giữ các vật chứng thu giữ gồm: 01(Một) điện thoại di động Nokia C3, màu hồng đen, ký hiệu RM-614, trong gắn sim số 0338.546.131, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị P; 01( Một) tờ giấy khổ A4 và phong bì thư màu trắng, sọc xanh đỏ bên trên có ghi các con số và chữ ký của Nguyễn Thị P.

Vào lúc 09 giờ 30 phút, ngày 18/12/2022, bị cáo Phạm Thị Thúy H sau khi biết bị cáo Nguyễn Thị P bị bắt về hành vi ghi số lô, số đề đã đến trụ sở Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị P còn nhận ghi số lô, số đề trong các ngày sau: Vào ngày 11/12/2022, Hoàng Ngọc D ghi số đề với Nguyễn Thị P số 85 với số tiền 100.000 (Một trăm nghìn) đồng. Ngày 13/12/2022, Hoàng Ngọc D ghi số đề 00 với số tiền 100.000 (Một trăm nghìn) đồng. Ngày 15/12/2022, Hoàng Ngọc D tiếp tục đánh số đề 02, 20 mỗi số 100.000 (Một trăm nghìn) đồng. Trong tất cả các ngày trên, Hoàng Ngọc D đều không trúng. Vào ngày 15/12/2022, người đàn ông tên Huy (chưa rõ địa chỉ) kể trên, ghi số lô 47,74 mỗi số 5 điểm, số lô 67, 76, 57, 75, 01, 10, 53, 35, 63, 36, 00, 99, 66, 88 mỗi số 2 điểm. Tương đương với số tiền ghi số lô là 855.000 (Tám trăm năm mươi lăm nghìn) đồng. Theo kết quả xổ số kiên thiết miền Bắc trong ngày, người đàn ông tên Huy trúng 5 điểm số lô 47, 2 điểm số lô 76 và 4 điểm số lô 10. Tổng số tiền trúng là 880.000 (Tám trăm tám mươi nghìn) đồng. Như vậy, tang số đánh bạc là: 1.735.000 (Một triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn) đồng.

Cáo trạng số 24/CT-VKS-ĐL ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Nguyễn Thị P, Phạm Thị Thúy H về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Về hình phạt:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của BLHS

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P từ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

- Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Thúy H từ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.

Về vật chứng:

- Áp dụng: Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.

- Tuyên xử: Tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 01(Một) điện thoại di động Nokia C3, màu hồng đen, ký hiệu RM-614, trong gắn sim số 0338.546.131, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị P; Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 7.482.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Thị P.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trang truy tố là đúng nên không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về việc xét xử vắng mặt người làm chứng: Tại phiên tòa người làm chứng Lê Thị T và anh Hoàng Ngọc D vắng mặt, nhưng quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ. Xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hướng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung:

Xét hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà có cơ sở để kết luận: Ngày 16/12/2021, các bị cáo Phạm Thị Thúy H và bị cáo Nguyễn Thị P đã có hành vi đánh bạc với hình thưc ghi số lô, số đề với tổng số tiền là 17.763.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi đánh bạc các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; các bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiến hành vi của mình. Như vậy, hành vi các bị cáo Nguyễn Thị P, Phạm Thị Thúy H đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi của các bị cáo.

Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; động cơ mục đích phạm tội đánh bạc để có tiền tiêu xài cá nhân; Vì vậy, cần xử phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, tuy nhiên cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng năng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mỗi bị cáo để xét xử cho mỗi bị cáo mức hình phạt tương xướng với tính chất, mức độ hành vi của mỗi bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Thị P là người thực hành tích cực, bị cáo đã bị UBND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với hình thức ghi số lô, số đề mặc dù đã chấp hành xong nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, cải tạo bản thân mà vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần lên cho bị cáo mức án cao hơn so với bị cáo Phạm Thị Thúy H.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Thị P có cha đẻ ông Nguyễn Văn Đào là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ giải phóng hạng 3, bị cáo H sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến cơ quan điều tra công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc tội ít nghiêm trọng và đây là lần đầu tiên các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; các bị cáo có công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, các bị cáo bị xử phát tiền ở hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã thu giữ các vật chứng gồm: 01(Một) điện thoại di động Nokia C3, màu hồng đen, ký hiệu RM-614, trong gắn sim số 0338.546.131, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị P là công cụ, phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước; Đồi 01( Một) tờ giấy khổ A4 và phong bì thư màu trắng, sọc xanh đỏ bên trên có ghi các con số và chữ ký của bị cáo Nguyễn Thị P thu giữ của bị cáo P là vật chứng hiện được lưu tại hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật; Đối với số tiền 7.482.500 đồng là tiền bị cáo Phương thu lợi bất chính, bị cáo P đã sử dụng cho mục đích cá nhận hết nên cần truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 7.482.500 đồng từ bị cáo P.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị P, Phạm Thị Thúy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này có hành vi đánh bạc của chị Lê Thị T và anh Hoàng Ngọc D với bị cáo P. Nhưng số tiền đánh bạc chưa đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã tiến hành xử phạt hành chính đối với hành vi đánh bạc của chị T và anh D là đúng quy định của pháp luật. Đối với người đàn ông tên Huy có hành vi đánh bạc với bị cáo P nhưng quá trình điểu tra không xác minh được họ tên, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý, khi nào điều tra xác minh được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật; Đối với 03 chiếc điện thoại gồm: Điệu thoại của bị cáo H, điện thoại của anh D và điện thoại của chị T đã sử dụng vào việc đánh bạc. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác minh 03 điện thoại này đã bị mất, cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được nên không có căn cứ xử lý.

Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, stỉnh Nghệ An về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 321 Bộ luật hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thúy H và bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội "Đánh bạc".

Về hình phạt:

- Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Thúy H 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Về vật chứng:

- Áp dụng: Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.

- Tuyên xử: Tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 01(Một) điện thoại di động Nokia C3, màu hồng đen, ký hiệu RM-614, trong gắn sim số 0338.546.131, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị P (theo biên bản giao nhận ngày 28 tháng 02 năm 2023 giữ Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An với Kho bạc nhà nước huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An). Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 7.482.500 đồng từ bị cáo Nguyễn Thị P.

Về án phí:

- Áp dụng: Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Thị P, Phạm Thị Thúy H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Cỡ chữ