- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh T 07 (Bảy) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 07 (Bảy) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án SỐ: 27/2023/HS-ST Ngày: 26 - 4 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Bùi Văn Độ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2023/TL-HSST ngày 07 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023, đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1986 tại huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Số nhà 32, đường Bát Phúc, cụm 10, xã T, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Điệp và bà Bùi Thị Minh Thanh; có chồng và có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 032 do Công an huyện Đan Phượng lập ngày 13/01/2023; tạm giữ từ ngày 10/01/2023 đến ngày 13/01/2023, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Tiến Nhuận, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn Tân Thành, xã Phương Độ, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhằm mục đích thu lợi bất chính, Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1986 trú tại Cụm 10, xã T, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội đã nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề. Khi khách mua 10.000 đồng tiền đề thì Thuyết thu 9.000 đồng (khuyến mại 10%). Căn cứ vào kết quả 02 số đầu (lô A/đề A) hoặc 02 số cuối (lô B/đề B) của giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày (nếu 02 số mà người chơi mua trùng với 02 số kết quả xổ số thì với mỗi điểm lô Thuyết trả cho người chơi 80.000 đồng/1 lần về từ giải đặc biệt đến giải 7, nếu người chơi mua số đề thì căn cứ vào kết quả giải đặc biệt thì Thuyết trả cho người chơi gấp 70 lần số tiền người chơi mua, nếu người chơi mua lô xiên thì tỷ lệ là gấp 10 lần). Vào ngày 09/01/2023, khi Thuyết đang bán các số lô 05 và 65 mỗi số 25 điểm x 23.000 đồng với số tiền là 1.150.000 đồng cho Nguyễn Tiến Nhuận, sinh năm 2002 ở thôn Tân Thành, xã Phương Độ, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang thì bị lực lượng Công an xã T bắt quả tang.
Quá trình điều tra, xác định trong ngày 09/01/2023 ngoài việc bán số đề cho Nguyễn Tiến Nhuận thì Nguyễn Thị Thanh T còn bán số lô, số đề cho một số khách qua đường (không rõ nhân thân, lai lịch) tại nhà Thuyết, cụ thể:
- Bán số lô A: 56 x 5 điểm, 66 x 3 điểm, 88 x 3 điểm, 87 x 2 điểm, 52 x 2 điểm, 04 x 2 điểm, mỗi số 22.500 đồng). Tổng tiền số lô A là 382.500 đồng.
- Bán số lô B: 50 x 50 điểm, 27 x 30 điểm, 96 x 40 điểm. 00 x 10 điểm, 26 và 62 x 3 điểm, 00 x 3 điểm, 69 và 96 x 10 điểm, 38 x 10 điểm, 28 x 10 điểm, 85 x 5 điểm, 00 x 20 điểm, 66 và 88 x 3 điểm, 52 và 87 x 2 điểm, 04 và 02 x 2 điểm, 20 và 97 x 2 điểm, mỗi số 22.500.000 đồng. Tổng số tiền lô B là 4.500.000 đồng.
- Bán số đề A: 44 x 60.000 đồng, 78 x 30.000 đồng, 87 x 30.000 đồng, 72 và 22 mỗi con 10.000 đồng, 77 và 27 mỗi con 10.000 đồng, 27 và 72 mỗi con 20.000 đồng, 24 và 42 mỗi con 5.000 đồng, 22 và 77 mỗi con 10.000 đồng, 27 và 72 mỗi con 10.000 đồng, 44 và 99 mỗi con 5.000 đồng, 49 và 94 mỗi con 5.000 đồng. Tổng số tiền Đề A là 270.000 đồng, tiền thực tế thu về là 243.000 đồng.
- Bán số đề B: 25, 42, 47, 74 mỗi con 30.000 đồng; 29 và 92 mỗi con 30.000 đồng; 06, 60, 59, 95, 09, 90 mỗi con 20.000 đồng; 647, 674, 624 mỗi con 10.000 đồng; 642, 679, 697 mỗi con 10.000 đồng; 67, 62, 06, 60, 16, 61 mỗi con 5.000 đồng; 57 và 52 mỗi con 5.000 đồng; 00, 11, 22, 33, 44 mỗi con 4.000 đồng; 55, 66, 77, 88, 99 mỗi con 4.000 đồng; 44 x 48.000 đồng; 78, 87 mỗi con 150.000 đồng; 22, 27, 77, 72 mỗi con 10.000 đồng; 24, 42 mỗi con 5.000 đồng; 44, 99, 49, 94 mỗi con 10.000 đồng; 00 x 120.000 đồng; 77, 22, 27, 72 mỗi con 10.000 đồng; 44, 99, 49, 94 mỗi con 10.000 đồng; 44, 49, 07, 70 mỗi con 10.000 đồng; 57, 75, 607, 670 mỗi con 10.000 đồng; 657, 675 mỗi con 10.000 đồng. Tổng số tiền là 1.178.000 đồng, tiền thực tế thu về là 1.061.000 đồng.
- Bán số lô xiên: 28, 38 x 24 = 24.000 đồng
Như vậy, tổng số tiền bán số lô, số đề trong ngày 09/01/2023 của Nguyễn Thị Thuyết là 7.504.500 đồng (sau khi trừ đi 10% tiền khuyến mại đối với khách mua số đề từ 10.000 đồng trở nên thì số tiền thực tế Thuyết thu của khách là 7.360.500 đồng). Trong đó, số tiền mặt mà Thuyết thu được là 6.170.000 đồng còn 1.190.500 đồng là khách nợ chưa trả cho Thuyết.
Bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 30 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thị Thanh T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Nguyễn Thị Thanh T khai nhận hành vi bán số lô, số đề như trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai nhận do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có công việc làm ổn định nên bị cáo phạm tội. Nay bị cáo ân hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội Đánh bạc. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng, không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xám, có lắp thẻ sim số 0379171347 Thuyết sử dụng vào việc đánh bạc và số tiền 7.360.500 đồng (đã thu giữ của Thuyết số tiền 6.170.000 đồng, truy thu thêm của Thuyết số tiền là 1.190.500 đồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền: Vụ án xảy ra trên địa bàn huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội nên việc khởi tố, truy tố và xét xử được các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ xác định: Ngày 09/01/2023, Nguyễn Thị Thanh T đã trực tiếp đánh bạc dưới hình thức ghi bán số lô, số đề, Thuyết bán cho Nguyễn Tiến Nhuận và một số người khách qua đường (không rõ nhân thân, lai lịch) với tổng số tiền là 7.360.500 đồng tại nhà của Thuyết ở Cụm 10, xã T, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Thuyết không chuyển cho ai mà trực tiếp so kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày rồi tính thắng, thua với người mua vào ngày hôm sau nhưng chưa kịp thanh toán thì bị Công an bắt nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo về hành vi đánh bạc với số tiền là 7.360.500 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Khi Quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình có công với cách mạng, bố bị cáo phục vụ trong quân đội được tặng thưởng Huy Chương, bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ để giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Nguyễn Tiến Nhuận dùng số tiền 1.150.000 đồng mua số lô, số đề của Thuyết, bản thân Nhuận chưa có tiền án, tiền sự, số tiền đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nhuận là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền Thuyết đánh bạc ngày 09/01/2023 là 7.360.500 đồng, Thuyết sử dụng vào việc đánh bạc sẽ được tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước. Quá trình điều tra Công an đã thu giữ của Thuyết số tiền 6.170.000 đồng (trong đó có tiền thu của Nhuận là 1.150.000 đồng ), truy thu thêm của Thuyết số tiền là 1.190.500 đồng.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xám, có lắp thẻ sim số 0379171347 Thuyết sử dụng vào việc đánh bạc sẽ được tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 07 (Bảy) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại Redmi màu xám, số imei1: 863946063079677; số imei2: 863946063079685, trên máy có lắp thẻ sim số 0379171347 (theo biên bản giao nhận vất chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đan Phượng lập ngày 07/4/2023).
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền Thuyết đánh bạc 7.360.500 đồng. Đã thu giữ 6.170.000 đồng theo Giấy ủy nhiệm chi lập ngày 11/4/2023. Truy thu thêm của Thuyết số tiền là 1.190.500 đồng.
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Đan Phượng; - CQTHAHS huyện Đan Phượng; - CCTHADS huyện Đan Phượng; - Bị cáo. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết |