vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 07/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tuấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Tuấn L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 6 năm 2023. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tuấn Liêm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tuấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày 26 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Kim - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Tuấn L , sinh ngày 03/10/2000 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp Tân Phước, xã Tân Đức, huyện Đ , tỉnh C ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Minh T và bà Hồ Thanh H ; bị cáo chưa có vợ; tiền án; tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 23/6/2023 chuyển tạm giam ngày 29/6/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dến vụ án: Ông Bùi Minh T , sinh 1982; nơi cư trú: Ấp Tân Phước, xã T , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 00 giờ 10 phút ngày 23/6/2023, lực lượng Công an huyện Đầm Dơi kết hợp với Công an xã Tân Đức tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên tuyến lộ Đông Tây, khi đến đoạn cầu Chống Mỹ - cầu Lung Vàng kiểm tra và bắt quả tang Bùi Tuấn L tàng trữ 01 gói ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,2196gam.

Bản kết luận giám định số 290/KL-KTHS ngày 25/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong gói nilon màu trắng được hàn kín, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1535gam, loại Methamphetamine; Tinh thể màu trắng bám dính bên trong ống thuỷ tinh được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0661gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 ống thuỷ tinh dạng phễu có đầu hình cầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh, nhãn hiệu YETT; 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN, biển số 69AE-01451; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15, gắn sim số 0879.391.071.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Bùi Tuấn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Tuấn L mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Trả lại cho ông Bùi Minh Tuấn 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15. Tịch thu tiêu hủy 01 gói nilon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 ống thuỷ tinh dạng phễu có đầu hình cầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh, nhãn hiệu YETT; 01 sim số 0879.391.071.

Đối với xe môtô nhãn hiệu DAEHAN, biển số 69AE-01451 đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Văn Đ nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Bị cáo Bùi Tuấn L chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình và sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Tuấn L thừa nhận: Khoảng 19 giờ ngày 22/6/2023, L và Đ cùng ngồi nhậu tại nhà của L . Sau khi nhậu gần xong L đi ra khỏi nhà dùng điện thoại Oppo A15 gọi cho Hồ Gia T bằng ứng dụng messenger qua tài khoản facebook “Thạnh Xalộ”, nhờ T mua ma tuý giúp để sử dụng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi nhậu xong L nói dối, rủ Đ đi đến nhà của T để tiếp tục nhậu thì Đ đồng ý. Đồng điều khiển xe mô tô biển số 69AE-01451 chở L đến nhà của T . Khi đến nơi L đi vào nhà gặp T , còn Đ nằm võng ở quán nước phía trước nhà của T . L rủ T đi chợ Tắc Vân để mua ma tuý thì T đồng ý. L đi ra ngoài nói dối mượn xe của Đ để đi mua mồi nhậu và kêu Đ ở nhà T chờ, sau đó L điều khiển xe mô tô chở T đi Tắc Vân mua ma tuý. Khi đến khu vực xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau, L bước xuống đường, T kêu L chuyển số tiền 190.000 đồng vào số tài khoản 0913420942 của Đỗ Kế H , sau khi chuyển khoản thành công thì L chụp màn hình gửi qua zalo của T rồi Thạnh điều khiển xe mô tô đi nhận ma tuý. Khoảng 10 phút sau, T quay trở lại chỗ L , L điều khiển xe mô tô chở T quay trở về nhà. Trên đường về, T đưa gói nilon chứa ma tuý đá cho L quản lý, L lấy gói ma tuý đá cất giấu vào bao thuốc lá YETT. Khi về đến nhà T , L nói với T ma tuý đá không có dụng cụ sử dụng thì T đưa cho L một ống thuỷ tinh dạng phễu có đầu hình cầu dùng để nấu ma tuý. Sau đó, L trở ra kêu Đ chở L quay về nhà L , khi đến đoạn cầu Chống Mỹ - cầu Lung Vàng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang L tàng trữ 01 gói ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,2196gam. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,2196gam Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Từ đó, Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo Bùi Tuấn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo đã xâm phạm quy định về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, là khách thể được pháp luật nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép. Ma tuý hiện đang là hiểm hoạ của nhân loại bị xã hội lên án và loại trừ, bởi nó là nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá về đạo đức, suy thoái về giống nòi, là nguy cơ tiềm ẩn làm phát sinh ra các loại tội phạm khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi vi phạm của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết như: Bị cáo có nhân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông ngoại Hồ Văn C thương binh 4/4 và ông cố Hồ Tấn Tài Liệt sỹ nên cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ đó, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị của đại điện Viện kiểm sát để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, lao động trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Đối với các đối tượng Hồ Hữu T , Đỗ Kế H cùng gia đình không có mặt tại địa phương và đối với người đã bán ma tuý cho Bùi Tuấn L , do không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra để điều tra làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Văn Đ , do không biết mục đích L đi mua ma tuý để sử dụng nên Cơ quan điều tra không khởi tố là phù hợp.

Về hình phát bổ sung: Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo chỉ nhằm mục đích sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu bản thân, không mang tính chất vụ lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Điện thoại di động hiệu Oppo A15 của ông T cho bị cáo mượn sử dụng, ông T không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho ông T .

Đối với sim số 0879.391.071 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 gói nilon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 ống thuỷ tinh dạng phễu có đầu hình cầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh, nhãn hiệu YETT. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe môtô nhãn hiệu DAEHAN, biển số 69AE-01451 Cơ quan điều tra trả lại cho anh Đ là có căn cứ nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo Bùi Tuấn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tuấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Tuấn L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 6 năm 2023.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số: 290/KL-KTHS ngày 25/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết giám định viên Dương Hải Đ , Ngô Trần P và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong bên trong gồm: 01 phong bì hình chữ nhật; 01 bọc nilon dùng để gói tình thể màu trắng; 01 ống thuỷ tinh (dạng nỏ hút) có 01 đầu hình quả cầu, đoạn giữa ông thủy tinh có quấn băng keo màu đen; 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh, hiệu YETT; 01 sim số 0879.391.071.

Trả lại cho ông Bùi Minh T 01 điện thoại hiệu Oppo A15. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/9/2023 giữa Cơ quan điều tra với Chi cục thị hành án.

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Tuấn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T có quyền kháng cáo liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ