- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Vũ Đức P phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Vũ Đức P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮKLẮK Bản án số: 27/2023/HS-ST Ngày: 17 – 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Lý
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Thanh; 2. Bà Trần Thị Thanh Thẩm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CưM’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Vũ Đức P; Sinh ngày 15/8/1998; tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang Thuận, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Hồng Khiêm, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị H N Ayun (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Y N Ksor và bà H R Ayun (Vắng mặt).
Địa chỉ: Buôn GB, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 6 giờ 45 phút ngày 30/12/2022 Trần Vũ Đức P (đã có giấy phép lái xe hạng A1), một mình điều khiển xe mô tô biển số 47R1-3332 đi trên đường Hồ Chí Minh hướng từ thị xã Buôn Hồ đi thành phố Buôn Ma Thuột. Đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, khi Phi điều khiển xe mô tô đến đoạn đường Km 1756+500 thuộc địa phận thôn Phú Thành, xã E, huyện C thì phát hiện chị H N Ayun đang điều khiển xe mô tô biển số 47C1-026.18 lưu thông từ đường nhánh bên phải theo hướng đi của P ra đường Hồ Chí Minh (hướng từ cổng chào buôn Gram B, xã Ea Drơng ra đường Hồ Chí Minh). Thấy vậy, P điều khiển xe tránh về hướng bên trái theo hướng đi và lấn sang phần đường bên trái 01m thì tông vào phía bên trái phía trước xe mô tô do chị H N điều khiển làm cả 02 xe và 02 người ngã xuống đường. Hậu quả, chị H N Ayun tử vong trên đường đi cấp cứu còn P bị thương nặng được đưa đi cấp cứu.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là ngã ba giao nhau với tuyến đường quốc lộ Hồ Chí Minh, có mặt đường rộng 11m trải nhựa bằng phẳng; có biển báo hiệu giao thông 207b “Giao nhau với đường không ưu tiên”; có vạch nét đứt để phân chia làn đường. Lấy mép đường bên phải hướng đi từ thị xã Buôn Hồ đến thành phố Buôn Ma Thuột làm mép đường chuẩn; căn cứ vào các dấu vết để lại hiện trường tổ khám nghiệm xác định vị trí va chạm nằm ở phần đường bên trái theo hướng đi từ thị xã Buôn Hồ đến thành phố Buôn Ma Thuột. Từ vị trí va chạm đo vào mép đường chuẩn là 6,5m.
Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 37/TTh-TTPY ngày 18/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận nguyên nhân tử vong của chị H N Ayun là: Suy hô hấp, suy tuần hoàn do chấn thương sọ não nặng/Chấn thương đầu mặt/ Nhiều thương tích khác do tai nạn giao thông.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 66/KLTTCT-PY ngày 28/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Vũ Đức P là 47%.
Tại bản kết luận định giá số 07/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện CưM’gar kết luận: giá trị thiệt hại hư hỏng của xe mô tô biển số 47C1-026.18 là 8.340.000 đồng và xe mô tô biển số 47R1-3332 là 4.860.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 16/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tập “VIDEO DOWNLOAD 1675049320727”, dung lượng 30,4 MB (31.902.914 bytes), mã MD5: 4AF2E8C552EADD199B1E6C89F1A00CDC: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép chỉnh sửa.
Đồ vật, tài liệu bị tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 47C1-026.18, nhãn hiệu HONDA, màu sơn Trắng đen; Giấy phép lái xe số 661198013533 mang tên H N Ayun và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 47000450; 01 xe mô tô biển số 47R1-3332, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn Đen; Giấy phép lái xe số 660227024104 mang tên Trần Vũ Đức P và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 005573.
Bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar truy tố bị cáo Trần Vũ Đức P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Vũ Đức P như nội dung cáo trạng và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Vũ Đức P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Vũ Đức P từ 12 đến 15 tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô biển số 47C1-026.18, nhãn hiệu HONDA, màu sơn Trắng đen; Giấy phép lái xe số 661198013533 mang tên H N Ayun và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 47000450 cho ông Y N Ksơr là người đại diện hợp pháp của bị hại H N Ayun; trả lại 01 xe mô tô biển số 47R1-3332, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn Đen; Giấy phép lái xe số 660227024104 mang tên Trần Vũ Đức P và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 005573 cho Trần Vũ Đức P là chủ sở hữu hợp pháp.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Trần Vũ Đức P đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 07 giờ 15’ ngày 30/12/2022 trên đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn P, xã E, huyện C, Trần Vũ Đức P (đã có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô 47R1-3332 lưu thông từ thị xã Buôn Hồ đi hướng thành phố Buôn Ma Thuột. Khi lưu thông gần đường giao nhau với đường không ưu tiên (có biển báo hiệu giao thông 207b “Giao nhau với đường không ưu tiên) thuộc địa phận thôn Phú Thành, xã Ea Drơng; P không giảm tốc độ, không đi đúng phần đường quy định nên đã va chạm với xe mô tô biển số 47C1-026.18 do chị H N Ayun điều khiển từ trong đường thuộc buôn Gram B, xã Ea Drơng đi ra đường Hồ Chí Minh. Hậu quả, chị H N tử vong trên đường đi cấp cứu; P bị thương tích 47%, xe mô tô bị hư hỏng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Vũ Đức P đã vi phạm khoản 1 Điều 9; Điều 24 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;…”.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính về tham gia giao thông đường bộ mà còn gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được khi tham gia giao thông đường bộ thì phải tuân thủ các quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, bị cáo điều khiển xe mô tô đi đến gần đường giao nhau với đường không ưu tiên có biển báo hiệu giao nhau nhưng bị cáo không giảm tốc độ, không đi đúng phần đường quy định nên gây tai nạn và dẫn đến hậu quả là bị hại tử vong. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
Với tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Ngày 10/4/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar đã trả lại 01 xe mô tô biển số 47C1-026.18, nhãn hiệu HONDA, màu sơn Trắng đen; Giấy phép lái xe số 661198013533 mang tên H N Ayun và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 47000450 cho ông Y N Ksơr là người đại diện hợp pháp của bị hại H N Ayun; trả lại 01 xe mô tô biển số 47R1-3332, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn Đen; Giấy phép lái xe số 660227024104 mang tên Trần Vũ Đức P và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 005573 cho Trần Vũ Đức P là chủ sở hữu hợp pháp. Xét việc trao trả trên là phù hợp, cần chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Vũ Đức P đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại có đơn xin bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Vũ Đức P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Vũ Đức P 01 (Một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô biển số 47C1-026.18, nhãn hiệu HONDA, màu sơn Trắng đen; Giấy phép lái xe số 661198013533 mang tên H N Ayun và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 47000450 cho ông Y N Ksơr là người đại diện hợp pháp của bị hại H N Ayun; trả lại 01 xe mô tô biển số 47R1-3332, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn Đen; Giấy phép lái xe số 660227024104 mang tên Trần Vũ Đức P và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 005573 cho Trần Vũ Đức P là chủ sở hữu hợp pháp
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585; 586; 589; 591 Bộ luật dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Trần Vũ Đức P đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng.
*Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Vũ Đức P phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Nơi gửi:
| - Vụ giám đốc kiểm tra 1 - TAND tỉnh ĐắkLắk - VKSND cùng cấp - THADS huyện; THA phạt tù - Sở tư pháp; CA huyện - Bị cáo, đại diện bị hại - Lưu hồ sơ vụ án | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thiên Lý |