vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn D và Nguyễn Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Đặng Văn D 07 (Bẩy) năm, 01 (một) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 07 (Bẩy) năm, 07 (bẩy) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 14 (Mười bốn) năm, 08 (Tám) tháng t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn D và đồng bọn - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn D và Nguyễn Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM GIÀNG
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày: 27/3/2023
3

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

]]

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trƣơng Thị Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dƣơng Văn Ngạn và bà Trần Thị Khanh

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mừng - Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Tống Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐ-HSST ngày 13 tháng 3 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Văn D, sinh năm 1994. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ 12B, Khu 4B Phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Thôn Tiền, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Văn hóa: 9/12. Con ông Đặng Văn Ngọc, sinh năm 1963 và bà Trần Thị Lương, sinh năm 1972; Gia đình có 03 anh em, Dũng là thứ nhất; chưa có vợ, con;Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2022, chuyển tạm giam từ ngày 14/10/2022 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

2. Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh năm 1993; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Xóm 1, thôn Tiền Liệt, xã Tân Phong, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: thôn Tiền, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Văn hóa: 9/12. Con ông Nguyễn Văn Bin, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Hay, sinh năm 1970; Gia đình có 03 anh em, Sang là thứ nhất; có vợ là chị Nguyễn Thị Phin, sinh năm 1995, có 01 con, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định số 121/QĐ-XPHC ngày 11/10/2011, Công an huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau gây thương tích; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2022, chuyển tạm giam từ ngày 14/10/2022 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

* Người làm chứng:

1. Anh Dương Xuân C, sinh năm 1991

2. Anh Mạc Văn K, sinh năm 1990

3. Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1996

4. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1956

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 08/10/2022, tại phòng trọ của Đặng Văn D có địa chỉ tại thôn Tiền, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương kết hợp với Công an thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng bắt quả tang Nguyễn Văn S, Đặng Văn D, Dương Xuân C, sinh năm 1991, HKTT: đội 6, thôn Tiêu Xá, xã Liên Mạc, huyện Thanh Hà; Mạc Văn K, sinh năm 1990, HKTT: xã Nam Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng và Hoàng Văn K1, sinh năm 1996, HKTT: xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đang sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của S 07 gói giấy (02 gói giấy có tô mực xanh và 05 gói giấy màu trắng có dòng kẻ) bên trong có các cục chất bột màu trắng; thu giữ trước vị trí D đang ngồi 01 hộp sắt kích thước 4,0x7,0cm bên trong có 09 gói giấy (01 gói giấy có tô mực màu xanh và 08 gói giấy màu trắng có dòng kẻ), kiểm tra bên trong có các cục chất bột màu trắng. S, D khai nhận 16 gói chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine của S, D cất giấu để bán kiếm lời. Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ: Số tiền 200.000 đồng (gồm: 01 tờ tiền Polime mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền Polime mệnh giá 50.000 đồng, 02 tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng); 02 con dao tem; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 tờ giấy bạc; 01 hộp sắt kích thước 4,0 x 7,0 cm bên trong có 10 tờ giấy có dòng kẻ kích thước 3,0 x 3,0 cm.

Quá trình điều tra Sang và D khai nhận: S, D là bạn bè và đều sử dụng ma túy loại Heroin.Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/10/2022, D mang theo 02 hộp sắt kích thước 4,0x7,0cm, 02 dao tem và giấy trắng có dòng kẻ đến phòng trọ của Sang ở thôn Tiền, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng rồi cùng thống nhất với Sang mua ma túy về chia nhỏ ra để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, S và D thống nhất mỗi người góp 1.000.000 đồng để mua ma túy (S chưa có tiền nên vay D 1.000.000 đồng). D đưa cho Sang 2.000.000 đồng rồi S đi bộ ra khu vực chân cầu vượt Lai Cách, huyện Cẩm Giàng gặp và mua của 01 người đàn ông tên T (không xác định được nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy loại Heroin với số tiền 2.000.000 đồng. S mang gói ma túy về phòng trọ, sử dụng dao tem (do D chuẩn bị) chia ma túy ra rồi đưa cho D dùng giấy trắng có dòng kẻ (do D chuẩn bị) gói ma túy thành 18 gói nhỏ (05 gói tô mực xanh để bán với số tiền 100.000 đồng/gói, 13 gói giấy trắng có dòng kẻ để bán với số tiền 200.000 đồng/gói), số ma túy còn lại cả hai để riêng ra sử dụng. Sau đó, cả hai mang ma túy đến phòng trọ của D (ở cùng thôn) rồi lấy số ma túy thừa cho vào tờ giấy bạc lấy từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long, dùng bật lửa trong phòng D hơ và thay nhau sử dụng (lúc này khoảng 20 giờ cùng ngày). Khi D và S đang sử dụng ma túy thì Dương Xuân C (là bạn của S, D) đến và cùng vào sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, K, K1 (là bạn của S, D) đến gặp S, D hỏi mua ma túy để sử dụng thì S và D đồng ý. K và K1 mỗi người đưa cho D 100.000 đồng, S đưa cho K và K1 mỗi người 01 gói ma túy (có tô mực xanh bên ngoài). Sau đó, K và K1 bảo D cho mượn dụng cụ và cho sử dụng ma túy tại phòng trọ của D thì được D đồng ý. K lấy 01 bộ bơm kim tiêm trong phòng trọ của D; K1 lấy tờ giấy bạc ở vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bật lửa trong phòng D để sử dụng ma túy. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Kết luận giám định số 538/KL-KTHS ngày 11/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận:Chất bột (dạng cục) mầu trắng trong 07 gói giấy mầu trắng có dòng kẻ, gửi đến giám định tổng khối lượng là: 0,353g là ma túy, loại Heroine; Chất bột (dạng cục) mầu trắng trong 09 gói giấy mầu trắng có dòng kẻ, gửi đến giám định tổng khối lượng là: 0,433g là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 0,703 gam ma túy loại Heroine, 16 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, trong đó 03 mảnh tô mực xanh.

Về vật chứng vụ án: 0,703 gam ma túy loại Heroine; 16 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, trong đó 03 mảnh tô mực xanh; 02 dao tem; 01 bật lửa ga; 01 bơm kim tiêm; 01 tờ giấy bạc, 02 hộp sắt kích thước 4,0x7,0 cm; 10 tờ giấy có dòng kẻ kích thước 3,0x3,0cm đang được quản lý tại kho vật chứng Công an huyện Cẩm Giàng, số tiền 200.000 đồng đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Cẩm Giàng, chờ xử lý.

Đối với 01 tờ giấy bạc Mạc Văn K dùng để sử dụng ma túy xong đã tiêu hủy nên không quản lý được.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 26/02/2023 và Quyết định bổ sung Quyết định truy tố số 01/QĐ-VKS ngày 28/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đặng Văn D, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn S về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận thực hiện hành vi như đã nêu trên; đồng thời thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật được nêu trong nội dung bản Cáo trạng và Quyết định bổ sung Quyết định truy tố số 01/QĐ-VKS ngày 28/02/2023 là hoàn toàn đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bị cáo Đặng Văn D và Nguyễn Văn S phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Văn D: Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Văn D từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ 08/10/2022.

+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn S: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ 26 tháng đến 28 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ 08/10/2022.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu cho tiêu hủy 0,703 gam ma túy loại Heroine; 16 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, trong đó 03 mảnh tô mực xanh; 02 dao tem; 01 bật lửa ga; 01 bơm kim tiêm; 01 tờ giấy bạc, 02 hộp sắt kích thước 4,0x7,0 cm; 10 tờ giấy có dòng kẻ kích thước 3,0x3,0cm

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 08/10/2022, tại phòng trọ của Đặng Văn D ở thôn Tiền, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Dũng cùng với Nguyễn Văn S có hành vi cung cấp ma túy, mảnh giấy bạc và bật lửa cho Dương Xuân C sử dụng ma túy. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, S và D bán cho Mạc Văn K và Hoàng Văn K1 02 gói ma túy loại heroine với số tiền 200.000 đồng; đồng thời D cung cấp cho K giấy bạc và bật lửa, cung cấp cho K1 bơm kim tiêm để K và K1 sử dụng ma túy tại phòng trọ của D. Khi K và K1 đang sử dụng ma túy tại phòng trọ của D thì bị cơ quan công an phát hiện, thu giữ vật chứng cùng 16 gói ma túy loại heroine khối lượng 0,786 gam với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Đặng Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn S đã đủ yếu tố cấu thành “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Về vai trò của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận D là người đề xuất, rủ sang góp tiền đi mua ma túy, là người chuẩn bị công cụ như 02 hộp sắt, 02 dao tem và giấy trắng có dòng kẻ mang đến phòng trọ của S với mục đích đi mua ma túy về chia nhỏ ra để sử dụng và bán kiếm lời. Mặt khác, bị cáo D 02 lần cung cấp dụng cụ cho 03 đối tượng sử dụng ma túy tại phòng trọ của mình nên giữ vai trò thứ nhất, bị cáo S đồng phạm giúp sức nên giữ vai trò thứ hai.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Đối với bị cáo S bị Công an huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau gây thương tích thể hiện tại Quyết định số 121/QĐ-XPHC ngày 11/10/2011, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên xác định bị cáo S có nhân thân xấu. Bị cáo D đã thực hiện 2 lần, tổ chức cho C và tổ chức cho K, K1 sử dụng ma túy tại phòng trọ của mình nên phải chịu 2 tình tiết định khung theo qui định tại điểm a, b Điều 255 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo D phải chịu tình tiết định khung nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Trong vụ án này, bị cáo D giữ vai trò thứ nhất; S đồng phạm giúp sức nên giữ vai trò sau D. HĐXX xem xét đánh giá vị trí vai trò của từng bị cáo, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng:

- Đối với số tiền 200.000đồng. Xét số tiền này do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quĩ Nhà nước;

- Đối với 0,703 gam ma túy loại Heroine, hoàn lại sau giám định. Xét Heroinelà chất cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy;

- Đối với 16 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, trong đó 03 mảnh tô mực xanh; 02 dao tem; 01 bật lửa ga; 01 bơm kim tiêm; 01 tờ giấy bạc, 02 hộp sắt kích thước 4,0x7,0 cm; 10 tờ giấy có dòng kẻ kích thước 3,0 x 3,0cm là dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về những vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông tên T, theo Nguyễn Văn S khai là người bán ma túy cho S, quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Văn D, Nguyễn Văn S, Dương Xuân C, Mạc Văn K, Hoàng Văn K1 Công an huyện Cẩm Giàng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp qui định;

- Đối với 01 tờ giấy bạc Mạc Văn K dùng để sử dụng ma túy xong đã tiêu hủy nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 17; khoản 1 Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Văn D;

Căn cứ áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 17; khoản 1 Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn S

Căn cứ áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với các bị cáo D và S.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn D và Nguyễn Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt Đặng Văn D 07 (Bẩy) năm, 01 (một) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 07 (Bẩy) năm, 07 (bẩy) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 14 (Mười bốn) năm, 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/10/2022.

- Xử phạt Nguyễn Văn S 07 (Bẩy) năm, 01 (một) tháng tù “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 02 (Hai) năm, 02 (Hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (Chín) năm, 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/10/2022.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 538/KLGĐ – PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương, còn nguyên niêm phong, bên trong có: 0,318g (Không phẩy ba trăm mười tám gam) ma túy loại Hêrôin, gói bằng giấy trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng; 07 (Bẩy) mảnh giấy mầu trắng có dòng kẻ, trong đó có 02 (Hai) mảnh tô mực xanh và 01 (Một) vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Ký hiệu T1;

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 538/KLGĐ – PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương, còn nguyên niêm phong, bên trong có 0,385g (Không phẩy ba trăm tám mươi lăm gam) ma túy loại Hêrôin, gói bằng giấy trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng; 09 (Chín) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, trong đó 01 (Một) mảnh tô mực xanh và 01 (Một) vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Ký hiệu T2.

- Tịch thu tiêu hủy một hộp sắt có kích thước (4,0x7,0)cm bên trong có 10(mười) tờ giấy trắng có dòng kẻ kích thước mỗi tờ (3,0x3,0)cm và 02 (Hai) con dao tem đã qua sử dụng;

- Tịch thu tiêu hủy một hộp sắt có kích thước (4,0x7,0)cm;

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy hêrôin gồm: 01 (Một) Mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 01 (Một) bật lửa ga đã qua sử dụng và 01 (Một) bộ xilanh đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) gồm: 01 (Một) tờ tiền Polime mệnh giá 100.000đồng, 01 (Một) tờ tiền Polime mệnh giá 50.000đồng, 02 (Hai) tờ tiền Polime mệnh giá 20.000đồng và 01 (Một) tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng thu giữ của đối tượng, được niêm phong trong bì thư dán kín có chữ ký của những người có liên quan và hình dấu tròn niêm phong của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

(Tình trạng và đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2023 giữa Công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương).

4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo (D và S) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ