vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 17/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Văn D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày: 17-7-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Dương Xuân Trường.

Ông: Nông Ngọc Hóa.

- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trọng Hữu và bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2023/TLST-HS, ngày 02 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Dương Văn D, (Tên gọi khác: không có) sinh ngày 17/8/1992, tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn D1 và bà Lộc Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Sằm Văn S, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. (Đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Sằm Thị T1, sinh năm 2003 (con gái bị hại). Trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Dương Văn D1, sinh năm 1963. Trú tại: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Có mặt.

* Người làm chứng:

- Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1959. Vắng mặt.

- Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1970. Vắng mặt.

- Ông Hứa Văn D2, sinh năm 1992. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 12 giờ, ngày 11/11/2022, bị cáo Dương Văn D đã có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp, một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1- 064.47 từ nhà đi ra thị trấn C, huyện B để mua xăng. Khi ra đến thị trấn C, không mua được xăng bị cáo D quay về nhà. Trên đường về đến đoạn đường Km7 + 100 đường tỉnh lộ 258B, thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì va chạm với xe đạp do ông Sằm Văn S điều khiển theo hướng ngược chiều, gây tai nạn, thấy ông S bất tỉnh nằm trên mặt đường, bị cáo D bế ông S vào lề đường, lúc này có ông Hoàng Văn C đi đến nhìn thấy sự việc nên đã cùng bị cáo D đưa ông S đến Trung tâm y tế huyện B để cấp cứu, khi đến Trung tâm y tế huyện B thì ông S đã tử vong.

Biên bản khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn thuộc Km7 + 100 đường tỉnh lộ 258B thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện B. Mặt đường rộng 4,30m, đoạn đường thẳng không có vạch kẻ phân làn đường, lề đường bên phải theo hướng thị trấn C đi xã N, huyện P rộng 0,75m, lề đường bên trái rộng 1,60m tiếp đến là rãnh thoát nước, kích thước 2,10m x 0,20m. Lấy mép đường bên trái theo hướng thị trấn C, huyện B đi xã N, huyện P làm mép đường chuẩn, lấy cột điện 18TBA Nà Ché bên phải đường làm điểm mốc. Quá trình khám nghiệm hiện trường, căn cứ vào các tài liệu và các dấu vết tại hiện trường xác định điểm đâm va giữa xe mô tô biển kiểm soát 97B1- 064.47 do bị cáo Dương Văn D điều khiển với xe đạp do ông Sằm Văn S điều khiển là tại phía bên trái đường theo hướng đi của xe mô tô, vị trí này cách mép đường chuẩn 1,25m, cách tâm đường 0,90m (xe mô tô lấn sang phần đường xe đạp 0,90m), cách điểm mốc 16,55m, được đặt số thứ tự là vị trí số 02 tại hiện trường.

Kết quả đo nồng độ cồn đối với bị cáo Dương Văn D tại thời điểm sau khi xảy tai nạn, cho kết quả: 0.000mg/L khí thở. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với bị cáo Dương Văn D tại thời điểm sau khi xảy ra tai nạn, cho kết quả D dương tính với ma túy (Morphine).

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 265/KL-KTHS ngày 22/11/2022 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Nạn nhân Sằm Văn S bị sốc không hồi phục sau chấn thương mạnh vùng đầu làm chật đốt sống cổ 01 với xương hộp sọ, gây tổn thương thần kinh trung ương dẫn đến tử vong.

Kết luận định giá tài sản số 94 và 96/KL-HĐĐG cùng ngày 16/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận:

+ Các bộ phận hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S110, biển kiểm soát 97B1-064.47 tại thời điểm ngày 11/11/2022 có giá là 690.000 đồng.

+ Các bộ phận hư hỏng của xe đạp màu sơn trắng, xanh, tại thời điểm ngày 11/11/2022 có giá là 420.000 đồng.

Trên cơ sở các dấu vết để lại trên hiện trường, kết quả xét nghiệm ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã xác định lỗi do bị cáo Dương Văn D điều khiển xe mô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, vi phạm khoản 7, khoản 19 Điều 8; khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 17 của Luật giao thông đường bộ.

Bản Cáo trạng số: 26/CT-VKSBB ngày 31/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Dương Văn D về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:

“ 1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

…

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;”

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo Dương Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Dương Văn D theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn D từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Sằm Thị T1 yêu cầu bị cáo Dương Văn D phải bồi thường về tính mạng, tổn thất tinh thần và thiệt hại về tài sản với tổng số tiền 80.420.000 đồng, bị cáo D đã thực hiện xong việc bồi thường, người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu gì thêm đối với bị cáo. Do đó, về phần bồi thường thiệt hại đã thực hiện xong đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đỏ - xám - đen, biển kiểm soát 97B1- 064.47, xe đã cũ, hư hỏng một số bộ phận (gương bên phải bị vỡ); 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 016589 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp, biển số đăng ký 97B1- 064.47, chiếc xe này là của ông Dương Văn D1, việc bị cáo D lấy xe của ông D1 để sử dụng và gây tai nạn ông D1 không biết nên đề nghị trả lại cho ông Dương Văn D1.

- Đối với 01 xe đạp khung xe màu sơn xanh, có dòng chữ “QUỸ BẢO VỆ TRẺ EM VIỆT NAM Tặng”, xe đã bị hư hỏng do tai nạn của bị hại, do bị hại đã chết nên đề nghị trả lại cho bị hại thông qua người đại diện hợp pháp của bị hại.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với điều luật, tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể đã đề nghị. Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại (có đơn xin xét xử vắng mặt), những người làm chứng. Tuy nhiên, họ đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án, căn cứ vào khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:

Lời khai nhận tội của bị cáo Dương Văn D tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản kiểm tra chất ma túy, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh khám nghiệm phương tiện; biên bản khám nghiệm tử thi, bản kết luận giám định pháp y tử thi, bản ảnh khám nghiệm tử thi; biên bản định giá tài sản và Kết luận của Hội đồng định giá tài sản, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 12 giờ, ngày 11/11/2022 bị cáo Dương Văn D đã có giấy phép lái xe hạng A1, trong tình trạng có sử dụng chất ma túy (Morphine), điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1 - 064.47 đi theo đường tỉnh lộ 258B hướng thị trấn C đi xã N, huyện P, khi đi đến đoạn đường Km7 +100 thuộc thôn N, xã T, huyện B, bị cáo D điều khiển xe đi lấn sang bên trái đường theo chiều đi của mình, nên đã đâm va vào xe đạp do ông Sằm Văn S đi theo hướng ngược chiều, gây tai nạn. Hậu quả ông Sằm Văn S tử vong trên đường đi cấp cứu, hai phương tiện bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo Dương Văn D thực hiện đã cấu thành tội phạm rất nghiêm trọng.

Hành vi điều khiển xe mô tô của bị cáo Dương Văn D gây ra tai nạn giao thông hậu quả làm cho bị hại chết đã vi phạm khoản 7 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ: “ Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy.”; khoản 19 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ: “Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị nạn và người gây tai nạn”; khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ” và khoản 1 Điều 17 Luật Giao thông đường bộ: “Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình”.

Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Văn D đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

- Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân tốt. Chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" về hành vi phạm tội của mình, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Sằm Văn S số tiền là 80.420.000 đồng (T3 mươi triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng) nên bị cáo được hưởng tình tiết“Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Dương Văn D. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét hành vi không chấp hành đúng Luật giao thông đường bộ của bị cáo Dương Văn D là rất nghiêm trọng, rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác là khách thể được P bảo vệ, gây cảnh đau thương mất mát lớn cho gia đình bị hại.

Bị cáo điều khiển phương tiện xe mô tô tham gia giao thông trong khi có sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe mô tô dẫn đến hậu quả xảy ra tai nạn làm 01 người bị chết. Điều này thể hiện bị cáo bất chấp pháp luật, coi thường tính mạng của người khác. Do đó, hành vi của bị cáo phải xử lý nghiêm minh và cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sử dụng xe mô tô chỉ để di chuyển, phục vụ việc đi lại của bản thân và sau đó gây ra tai nạn giao thông nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, Hội đồng xét xử không chấp nhận, bởi lẽ: Bị cáo Dương Văn D bất chấp các quy định của pháp luật giao thông đường bộ đã vi phạm nhiều quy định của pháp luật như: Vi phạm khoản 7 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ: “ Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy.”; khoản 19 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ: “Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị nạn và người gây tai nạn”; khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ” và khoản 1 Điều 17 Luật Giao thông đường bộ: “Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình”. Bị cáo D phạm tội rất nghiêm trọng, hậu quả tai nạn giao thông xảy ra làm bị hại chết gây tang thương, mất mát cho gia đình bị hại. Mặt khác, hiện nay để phòng ngừa tình trạng vi phạm Luật giao thông đường bộ do sử dụng rượu bia, chất ma túy…trên địa bàn huyện B thì cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo D để giáo dục bị cáo nói riêng và để răn đe, phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Sằm Thị T1 (con gái của bị hại) yêu cầu bị cáo Dương Văn D phải bồi thường về tính mạng, tổn thất tinh thần và thiệt hại về tài sản với tổng số tiền 80.420.000 đồng (T3 mươi triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Ông Dương Văn D1 bố của bị cáo D đã đưa cho bị cáo D số tiền 80.420.000 đồng (T3 mươi triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng) để bị cáo bồi thường thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại đã thực hiện xong, người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu gì thêm đối với bị cáo. Do đó về phần bồi thường thiệt hại Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đỏ - xám - đen, biển kiểm soát 97B1- 064.47, xe đã cũ, hư hỏng một số bộ phận (gương bên phải bị vỡ); 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 016589 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp, biển số đăng ký 97B1- 064.47, chiếc xe này là của ông Dương Văn D1 (bố bị cáo), việc bị cáo D lấy xe của ông D1 để sử dụng và gây tai nạn ông D1 không biết nên trả lại cho ông Dương Văn D1.

- Đối với 01 xe đạp khung xe màu sơn xanh, có dòng chữ “QUỸ BẢO VỆ TRẺ EM VIỆT NAM Tặng”, xe đã bị hư hỏng do tai nạn của bị hại, do bị hại đã chết nên trả lại cho bị hại thông qua người đại diện hợp pháp của bị hại.

Về vấn đề khác:

Đối với việc bị cáo Dương Văn D mua rượu ngâm cây thuốc phiện với một người phụ nữ ở chợ N rồi đem uống cùng hai người đàn ông ở chợ, những người này không xác định được danh tính, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với ông Dương Văn D1 là bố đẻ bị cáo D đồng thời là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô biển số đăng ký 97B1-064.47, việc bị cáo D tự ý sử dụng xe ông D1 không biết nên không xử lý. Ông Dương Văn D1 không đề nghị giải quyết vấn đề bảo hiểm trách nhiệm dân sự và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền mình đã đưa cho bị cáo để bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 7, khoản 19 Điều 8; khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 17 của Luật Giao thông đường bộ; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Văn D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về vật chứng:

- Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đỏ - xám - đen, biển kiểm soát 97B1- 064.47, xe đã cũ, hư hỏng một số bộ phận (gương bên phải bị vỡ); 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 016589 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp, biển số đăng ký 97B1- 064.47 cho ông Dương Văn D1 (Trú tại: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn).

- Trả lại 01 xe đạp khung xe màu sơn xanh, có dòng chữ “QUỸ BẢO VỆ TRẺ EM VIỆT NAM Tặng”, xe đã bị hư hỏng do tai nạn cho chị Sằm Thị T1 (Trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn).

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/6/2023 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ