vanban.org

Bản án 27/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 20/04/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao Đường Xuân D cho Ủy ban nhân dân xã Đường X, huyện B, tỉnh Bình Phước nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Đường Xuân D và Dương Văn D phạm tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Giao Đường Xuân D cho Ủy ban nhân dân xã Đường X, huyện B, tỉnh Bình Phước nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-PT
Ngày 20 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Hương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và ông Võ Văn Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Trí - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Trần Văn T và 02 bị cáo do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 04-01-2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Đức.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Văn T, sinh năm 1983 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; tiền án, tiền sự: không; con ông Trần Văn T và bà Tiêu Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Thu S (là bị cáo cùng vụ án) và 02 con; bị bắt tạm giữ từ ngày 06-4-2022 đến ngày 29-4-2022, tại ngoại - Có mặt.

2. Dương Văn D, sinh năm 1992 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn 01, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Thợ sắt; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Dương Văn C (đã chết) và bà Trần Thị X; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 19/2010/HS-ST ngày 27-9-2010 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đắk Nông xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 03 năm tù tại Bản án số 132/2010/HS-PT ngày 30-11-2010, đã chấp hành xong hình phạt ngày 24-4-2013; Bản án số 47/2015/HS-ST ngày 14-7-2015 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù tại Bản án số 98/2015/HS-PT ngày 24-9-2015, đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích; tại ngoại - Có mặt.

3. Đường Xuân D, sinh năm 1993 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn 2, xã Đường X, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Đường Xuân L và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06-4-2022 đến ngày 15-4-2022, tại ngoại - Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án có các bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị; Triệu Tiến S có kháng cáo và rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa nên đã đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T đi chơi đánh bạc nhưng thường bị thua, do nghi ngờ người khác đánh bạc bịp nên đã nảy sinh ý định tổ chức sòng bạc và nhờ người kiểm tra xem có ai đánh bạc bịp hay không. Ngày 04-4-2022, T trao đổi và nhờ Nguyễn Đức P tìm người có máy phát hiện đánh bạc bịp bằng hình thức xóc đĩa, vừa đánh bạc, vừa để kiểm tra, P gọi điện thoại cho Nguyễn Hữu Q kể lại nội dung sự việc. Sau đó, P cho T số điện thoại của Q để T gọi điện thoại nhờ Q dùng máy kiểm tra việc đánh bạc bịp thì được Q đồng ý.

Khoảng 09 giờ ngày 06-4-2022, T gọi điện thoại cho Đỗ Viết Q mượn địa điểm để tổ chức sòng bạc tại nhà của Q (quá trình điều tra Q không thừa nhận). Sau đó, T lần lượt gọi điện thoại rủ các con bạc gồm Q, P, Triệu Quang Th và Lê Ngọc H đến nhà Q để đánh bạc thì tất cả đều đồng ý. Th rủ thêm Triệu Tiến S và Triệu Văn B; Triệu Văn B rủ Triệu Văn K; Triệu Văn K rủ Đường Xuân D; S rủ Đặng Văn C; H rủ T1 và đối tượng tên D1 (chưa xác định nhân thân, lai lịch). Khoảng 11 giờ cùng ngày, Q, P và đối tượng tên H (chưa xác định nhân thân, lai lịch), Nguyễn Duy Th, Dương Văn D và đối tượng tên Nh (chưa xác định nhân thân, lai lịch) đến nhà của Trần Văn T.

Khoảng 14 giờ cùng ngày, T, Th, D, Nh, Th, S, B, K, D, C, H, T1, D1, Q, H, P, L và một số con bạc khác lần lượt đến nhà Q tại bon J, xã Đ, huyện T, phương tiện sử dụng là xe mô tô và xe taxi. Trước khi đi H mang theo chén sứ và đĩa sứ. Sau khi đã tập trung đầy đủ, mọi người trải 02 chiếu nhựa tại phòng bếp nhà Q, T sử dụng dụng cụ bấm 04 con vị từ lá bài tú lơ khơ rồi bỏ vào chén, Th bắt đầu xóc đĩa, H thu tiền xâu, P làm senko (cá cược dựa vào kết quả xóc đĩa), hình thức chơi xóc đĩa mức đặt cược thấp nhất là 100.000 đồng, cao nhất là 1.000.000 đồng/01 người/01 lần đặt cược và hình thức chơi senko mức đặt cược thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 1.000.000 đồng/01 người/01 lần đặt cược.

Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 15 giờ lần lượt còn có Phạm Xuân T, Nghiêm Văn T, Võ Thiện Ph, Nguyễn Thị Thu S và một số đối tượng khác cũng đến sòng bạc. Các đối tượng đánh bạc liên tục từ 14 giờ đến 16 giờ cùng ngày thì Công an huyện Tuy Đức bắt quả tang, bắt giữ 13 đối tượng có mặt tại sòng bạc, ngoài ra có một số đối tượng bỏ chạy, thu giữ trên chiếu bạc 69.500.000 đồng và thu giữ trên người của các đối tượng 78.510.000 đồng và một số vật dụng liên quan.

Quá trình điều tra đã làm rõ số tiền sử dụng để đánh bạc như sau: Q 4.400.000 đồng, P 5.450.000 đồng, Th 400.000 đồng, B 4.200.000 đồng, D 1.550.000 đồng, T 11.000.000 đồng, S 8.000.000 đồng, K 3.000.000 đồng, C 1.450.000 đồng, T1 3.500.000 đồng, D 3.700.000 đồng. Khi bắt quả tang còn thu giữ trên người các bị cáo và những đối tượng đến xem đánh bạc tổng số tiền là 78.510.000 đồng. Cụ thể thu giữ trên người của D 550.000 đồng, Th 110.000 đồng, T 300.000 đồng, Th 850.000 đồng, K 150.000 đồng, B 1.600.000 đồng, S 71.000.000 đồng, Q 1.600.000 đồng, T 1.550.000 đồng và Ph 800.000 đồng.

Ngoài ra quá trình điều tra, xác định T là người chuẩn bị địa điểm, tổ chức sòng bạc, gọi một số bị cáo đến tham gia đánh bạc, quá trình đánh bạc T không tham gia chỉ đứng xem, S không tham gia đánh bạc nhưng cho Th mượn 5.000.000 đồng để đánh bạc, H không tham gia đánh bạc nhưng chuẩn bị công cụ chén, đĩa xứ để cho các bị cáo khác đánh bạc và thu tiền xâu. Q sau khi bị bắt quả tang đã lấy từ túi áo trên người ra 25.000.000 đồng nhằm ý định để được bỏ qua hành vi của mình nhưng không thực hiện được và số tiền này được bỏ chung vào trong chiếu bạc.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 46.650.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 04-01-2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Đức đã quyết định: Tuyên bố Trần Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Đường Xuân D và Dương Văn D phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn T 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Dương Văn D 09 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đường Xuân D 06 tháng tù.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 06-01-2023, Đường Xuân D kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 14-01-2023, Trần Văn T kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 17-01-2023, Dương Văn D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Triệu Tiến S kháng cáo, sau đó rút kháng cáo nên đã đình chỉ xét xử.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Trần Văn T và Dương Văn D xin rút đơn kháng cáo. Đường Xuân D thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức xử phạt bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đúng, không oan và giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ Điều 342; Điều 348; các điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Trần Văn T và Dương Văn D; không chấp nhận kháng cáo của Đường Xuân D, tuy nhiên cần sửa bản án sơ thẩm áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo nhưng giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Bị cáo Đường Xuân D không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 04-01-2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Đức đã kết án Trần Văn T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Đường Xuân D và Dương Văn D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Tại phiên tòa, Trần Văn T và Dương Văn D rút đơn kháng cáo, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm, Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Trần Văn T và Dương Văn D có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.

. Xét kháng cáo của Đường Xuân D, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án và xử phạt bị cáo D mức hình phạt 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo D cung cấp tình tiết mới là Giấy xác nhận của chính quyền địa phương xác nhận bị cáo có hộ khẩu thường trú tại địa phương. Mặt khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ít hơn các bị cáo khác trong vụ án. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, đủ điều kiện được hưởng án treo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Đường Xuân D.

. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa có căn cứ một phần nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

. Về án phí: Trần Văn T và Dương Văn D rút đơn kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của Đường Xuân D được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 342; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Trần Văn T và Dương Văn D. Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 04-01-2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Đức xử phạt đối với Trần Văn T và Dương Văn D có hiệu lực kể từ ngày 20-4-2023.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của Đường Xuân D, sửa Bản án sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 04-01-2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Đức về hình phạt và điều luật áp dụng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đường Xuân D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 (một) năm về tội “Đánh bạc”, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao Đường Xuân D cho Ủy ban nhân dân xã Đường X, huyện B, tỉnh Bình Phước nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ