- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương S."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung " của bà Đặng Thị Ngọc T đối với ông Trương S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
Ông Mai Văn Ba
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký TAND quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đức- Kiểm sát viên.
Ngày 30/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 43/2023TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43A/2023/QĐST- HNGĐ ngày 14/8/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Ngọc T – Sinh năm: 1991 – Nơi ĐKHKTT: Số 21 đường M 2, Tổ 35 phường M, quận N, TP. Đà Nẵng. Chỗ ở hiện nay: Số 26 đường Đ 3, tổ 30 phường K, quận N, Tp Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trương S - Sinh năm: 1992 – Địa chỉ: Tổ 35 phường M, quận N, TP.Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương S xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận N, TP. Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông, bà chung sống tại địa chỉ: Tổ 75, phường K, quận N, TP. Đà Nẵng. Thời gian đầu sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông S không tu chí làm ăn, dẫn đến nợ nần chồng chất, bỏ bê gia đình. Ông bà đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm của bà Thu đối với ông Trương S không còn, do đó bà xin được ly hôn với ông Trương S.
- Về quan hệ con chung: Bà Đặng Thị Ngọc T xác định bà và ông Trương S có 02 con chung là Trương Phước B - Sinh ngày: 06/07/2013 và Trương Phước A – Sinh ngày: 04/01/2020. Ly hôn bà Thu có nguyện vọng được nuôi dưỡng con Trương Phước B và Trương Phước A, yêu cầu ông Trương S cấp dưỡng 6.000.000 đồng/tháng cho 2 cháu Trương Phước B và Trương Phước A cho đến khi đủ 18 tuổi.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà Đặng Thị Ngọc T xác định không có.
- Về nợ chung: Bà Đặng Thị Ngọc T xác định không có.
* Đối với bị đơn – ông Trương S: mặc dù đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Trương S đều vắng mặt và không có ý kiến phản hồi nên không ghi nhận được ý kiến của ông về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Theo đó, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng pháp luật, riêng bị đơn ông Trương S không chấp hành triệu tập của Tòa án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc T đối với ông Trương S về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”:
- Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T đối với ông Trương S.
- Về quan hệ con chung: Áp dụng điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao 02 con chung là: là Trương Phước B - Sinh ngày: 06/07/2013 và Trương Phước A – Sinh ngày: 04/01/2020 cho bà Đặng Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Buộc ông Trương S cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 6.000.000 đồng (3.000.000 đồng/con) cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đặng Thị Ngọc T xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung. Tại phiên tòa ông Trương S vắng mặt nên để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:
Về thủ tục: Đơn khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc T nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Trương S là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông Trương S vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương S đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND phường K, quận N, TP. Đà Nẵng theo giấy chứng nhận kết hôn số: 91 cấp ngày 26/9/2012. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn, vợ chồng ông, bà chung sống tại địa chỉ: Tổ 75, phường K, quận N, TP. Đà Nẵng. Thời gian đầu sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông S không tu chí làm ăn, dẫn đến nợ nần chồng chất, bỏ bê gia đình. Ông bà đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai. Nay bà Đặng Thị Ngọc T xác định không còn yêu thương ông Trương S nữa, bà xin được ly hôn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T đối với ông Trương S thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương S lại không làm được điều này. Qua xác minh được biết giữa bà T và ông S có mâu thuẫn, hiện tại bà Thu không còn chung sống với ông S tại địa chỉ nêu trên. Về phía ông Trương S, Tòa án đã tạo điều kiện nhiều lần để vợ chồng hòa giải mâu thuẫn, trở về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng ông Trương S đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Việc này cho thấy ông Trương S không tôn trọng Tòa án và thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, không có thiện chí níu kéo mối quan hệ hôn nhân của mình. Xét thấy, mâu thuẫn của bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T đối với ông Trương S là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Đặng Thị Ngọc T xác định bà và ông Trương S có 02 con chung là Trương Phước B - Sinh ngày: 06/07/2013 và Trương Phước A – Sinh ngày: 04/01/2020. Ly hôn bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con Trương Phước B và Trương Phước A, yêu cầu ông Trương S cấp dưỡng 6.000.000 đồng/tháng cho 2 cháu Trương Phước B và Trương Phước A (3.000.000 đồng/con) cho đến khi các con lần lượt đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Xét yêu cầu của bà T về việc xin được nuôi con chung thì thấy: Việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của con, đảm bảo được sự phát triển toàn diện của con cả về thể chất lẫn tinh thần. Hiện tại, các con đang được bà T nuôi dưỡng, chăm sóc nên cần tiếp tục giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với tình hình thực tế, nhằm ổn định cuộc sống của con; phù hợp với ý kiến của con Trương Phước B và phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, đây là nghĩa vụ, trách nhiệm của bên không trực tiếp nuôi con sau ly hôn, tuy nhiên mức cấp dưỡng nuôi con còn phải căn cứ vào mức thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con chung. Tại phiên tòa hôm nay, bà T yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi các con mỗi tháng là 6.000.000 đồng (3.000.000 đồng/con). HĐXX xét thấy phù hợp với tình hình thực tế và phù hợp với điều 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình nghĩ nên chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đặng Thị Ngọc T xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và nợ chung. Ông Trương S vắng mặt nên không ghi nhận được kiến của ông về vấn đề này. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự, HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000 đồng bà Đặng Thị Ngọc T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Án phí cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng ông Trương S phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung " của bà Đặng Thị Ngọc T đối với ông Trương S.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Ngọc T được ly hôn ông Trương S.
Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T đối với ông Trương S nên giấy chứng nhận kết hôn số 91 do UBND phường K, quận N, TP. Đà Nẵng cấp cho bà Đặng Thị Ngọc T và ông Trương S ngày 26/9/2012 không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là: Trương Phước B - Sinh ngày: 06/07/2013 và Trương Phước A – Sinh ngày: 04/01/2020 cho bà Đặng Thị Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Buộc ông Trương S cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 6.000.000 đồng (3.000.000 đồng/con) cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đều có quyền yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Kể từ quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự.
3. Án phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Đặng Thị Ngọc T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Đặng Thị Ngọc T đã nộp tại biên lai thu số 9652 ngày 17/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Bà Đặng Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí.
4. Án phí cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Trương S phải chịu.
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND quận Ngũ Hành Sơn; - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn; - UBND phường K, quận N, TP. Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ, | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN THỊ TRÂM |