vanban.org

Bản án 27/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đạt Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đạt Thị T được ly hôn anh Ngân Văn M. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Đạt Thị T, giao 01 con chung tên Ngân Hoàng T, sinh ngày 03/11/2016 cho chị T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đạt Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phú Trần Anh Vương

Bà Hứa Thị Mây Sum

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Xuân Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận N tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 49/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023, và Quyết định hoãn phiên toà số 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đạt Thị T, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn Phước Lập Tam Lang, xã Phước N, huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

- Bị đơn: Anh Ngân Văn M, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn Phước Lập Tam Lang, xã Phước N, huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 01/4/2023, Biên bản lấy lời khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Đạt Thị T trình bày: Chị với anh Ngân Văn M tự nguyện tìm hiểu và đi đến chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức lễ cưới, và đến năm 2016 làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn chị và anh M vào làm thuê tại tỉnh Bình Dương. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì xảy ra M thuẫn, do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, mỗi lần nói chuyện đều cãi nhau nên làm cho vợ chồng M thuẫn càng trầm trọng nên anh M đã bỏ đi từ năm 2019 cho đến nay không còn liên lạc, quan tâm tới nhau. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh Ngân Văn M vì vợ chồng đã sống cách ly từ nhiều năm nay nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh M. Khi nộp đơn ra Toà án yêu cầu ly hôn, chị có gọi điện thông báo cho anh M biết nhưng anh M nói rằng anh không về được và yêu cầu chị tự giải quyết ly hôn đơn phương.

- Về con chung: Chị với anh Ngân Văn M có 01 con chung tên Ngân Hoàng T, sinh ngày 03/11/2016, hiện nay con đang sống với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Ngân Văn M: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai để thông báo cho anh Ngân Văn M biết và thực hiện nhưng anh M không đến Toà án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đạt Thị T, chị T được ly hôn anh M.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Đạt Thị T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Ngân Văn M, đây là vụ án về Hôn nhân và Gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Ngân Văn M hiện đang cư trú tại thôn Phước Lập Tam Lang, xã Phước N huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận N.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Anh Ngân Văn M (bị đơn) vắng mặt đã được Tòa án nhân dân huyện Thuận N thực hiện các thủ tục niêm yết hợp lệ, công khai nhưng anh M không đến Toà. Phiên toà được mở lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh M.

. Về nội dung vụ án:

. Về hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2017, ngày 06/02/2017 và Trích lục khai sinh số 38/TLKS-BS ngày 06/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã Phước N, huyện Thuận N, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của chị Đạt Thị T và anh Ngân Văn M là hôn nhân hợp pháp, thời điểm kết hôn năm 2017, có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

. Tình trạng hôn nhân: Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra M thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, đến năm 2019 anh M bỏ đi nên vợ chồng sống cách lý từ đó đến nay, không ai quan tâm tới ai. Điều này chứng tỏ M thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh, chính quyền địa phương xác nhận anh M có hộ khẩu thường trú tại địa phương, hiện nay anh M không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục niêm yết công khai, hợp lệ nhưng anh M vẫn vắng mặt tại phiên tòa, điều đó chứng tỏ anh M không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng.

Từ những phân tích trên xét thấy, tình trạng M thuẫn vợ chồng giữa chị Đạt Thị T và anh Ngân Văn M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn anh M.

. Về con chung: Quá trình chung sống chị Đạt Thị T và anh Ngân Văn M có 01 con chung tên Ngân Hoàng T, sinh ngày 03/11/2016. Hiện nay con đang sống cùng với chị T, chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay con đang sống cùng với chị T đã ổn định về tâm lý, hơn nữa hiện nay anh M không có mặt tại địa phương, do đó việc giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đạt Thị T không yêu cầu anh Ngân Văn M cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đạt Thị T và anh Ngân Văn M không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận N về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Đạt Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đạt Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đạt Thị T được ly hôn anh Ngân Văn M.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Đạt Thị T, giao 01 con chung tên Ngân Hoàng T, sinh ngày 03/11/2016 cho chị T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Đạt Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị T đã nộp theo Biên lai thu số 0001618 ngày 03/4/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận N.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./

Cỡ chữ