- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST Ngày 18 - 9 - 2023 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Duyên và bà Hoàng Thị Hanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Đầu Xuân Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2023/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1996; ĐKHK: Thôn Th, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú hiện nay: Thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Th, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Nguyễn Văn H kết hôn ngày 12/5/2014, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị về sống chung cùng gia đình anh H. Quá trình chung sống, ban đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến tháng 5/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H không chỉn chu làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Tháng 8/2020 chị thuê nhà ở riêng tại thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đến nay vợ chồng chấm dứt quan hệ tình cảm, sống ly thân, không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì đến nhau. Chị xác định tình cảm không còn, vợ chồng không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 03/10/2014 và cháu Nguyễn Tuấn M, sinh ngày 01/5/2018 hiện đang ở cùng anh H. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị nuôi cháu M, anh H nuôi cháu H, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L, cho chị L được ly hôn anh Nguyễn Văn H; giao cho chị L nuôi cháu M, anh H nuôi cháu H, chị L và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; chị L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H; anh H có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Nguyễn Văn H, mặc dù anh H có mặt tại địa phương nhưng anh H không đến Tòa án để làm việc. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, chị L xác định: Từ tháng 5/2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H không chỉn chu làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên đánh cãi chửi nhau, từ tháng 8/2020 đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì đến nhau, Tòa án triệu tập anh H nhiều lần nhưng anh H không hợp tác, không đến Tòa để làm việc. Quá trình làm việc với gia đình anh H và địa phương, thể hiện: Anh H đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, hiện anh H đang ở tại thôn Th, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, chị L đã thuê nhà ra ở riêng từ năm 2019, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.
Xét thấy: Chị L và anh H đã ly thân nhau trong thời gian dài. Trong thời gian ly thân hai bên đều không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm, không còn quan tâm hay có trách nhiệm gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh H đều vắng mặt. Chứng tỏ hôn nhân của chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L ly hôn anh H là phù hợp.
. Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị L và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 03/10/2014 và cháu Nguyễn Tuấn M, sinh ngày 01/5/2018 hiện đang ở cùng anh H. Ly hôn, chị L đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị nuôi cháu M, anh H nuôi cháu H, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy: Hiện chị L đang ở nhà thuê và làm công nhân tại Công ty TNHH KCI Vina tại xã B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc với mức thu nhập khoảng 8.000.000đ/tháng; quá trình làm việc với gia đình anh H và địa phương, thể hiện: Anh H đang ở cùng bố mẹ đẻ tại thôn Th, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, anh H lao động tự do. Như vậy, chị L và anh H đều có chỗ ở ổn định và có thu nhập nên để đảm bảo quyền lợi của hai bên cũng như đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu thấy cần giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, chị L và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp pháp luật và nguyện vọng của cháu H.
. Về quan hệ tài sản: Chị L không yêu cầu giải quyết, đồng thời quá trình giải quyết vụ án anh H vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu của đương sự.
. Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
1. Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
2. Giao cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuấn M, sinh ngày 01/5/2018, anh Nguyễn Văn H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 03/10/2014. Chị L và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được cản trở việc thăm non, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu về cấp dưỡng.
3. Chị Hoàng Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số: 0003432, ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tam Dương; - Chi cục THADS huyện Tam Dương; - UBND xã H, huyện T; - Các đương sự; - Lưu HSVA, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Thu |