vanban.org

Bản án 27/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn anh Bùi Đình Ng.

Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Ngọc H, sinh ngày 10/8/2011 cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Bùi Thị Ngọc M, sinh ngày 02/8/2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L và anh Ng không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị L - Bùi Đình Ng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn anh Bùi Đình Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOẰNG HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/7/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lê Thị Ngọc Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Duy Chuyên

Ông Lê Xuân Thư

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 134/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/6/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1989 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn 6, xã Ng, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Anh Bùi Đình Ng, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 6, xã Ng, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/5/2023, các lời khai trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Chị L và anh Bùi Đình Ng tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ng, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 11/9/2010. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do anh Ng chơi bời, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ng.

Về con: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Thị Ngọc H, sinh ngày 10/8/2011 và cháu Bùi Thị Ngọc M, sinh ngày 02/8/2014. Chị L xin được trực tiếp nuôi cháu Ngọc M và giao cháu Ngọc H cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chị L và anh Ng không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ: Chị L không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 05/6/2023, anh Bùi Đình Ng trình bày: Anh Ng và chị Phạm Thị L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/11/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do mỗi bên không trùng quan điểm và mỗi người có những suy nghĩ khác nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị L đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 5/2023 đến nay, anh Ng đã động viên chị L quay về nhưng không được. Nay chị L cương quyết xin ly hôn anh Ng, quan điểm của anh Ng là không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, cùng nuôi dạy con cái.

Về con: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Thị Ngọc H, sinh ngày 10/8/2011 và cháu Bùi Thị Ngọc M, sinh ngày 02/8/2014. Anh Ng xin được trực tiếp nuôi cả hai con, không yêu cầu chị L cấp dưỡng.

Về tài sản và công nợ: Anh Ng không yêu cầu tòa án giải quyết.

Kết quả xác minh tại địa phương xã Ng, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 15/6/2023: Chị Phạm Thị L và anh Bùi Đình Ng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ng, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 19/11/2010. Sau khi kết hôn, chị L và anh Ng chung sống tại thôn 6, xã Ng, huyện H cho đến nay. Anh chị có hai con chung là cháu Bùi Thị Ngọc H, sinh ngày 10/8/2011 và cháu Bùi Thị Ngọc M, sinh ngày 02/8/2014. Quá trình chung sống, chị L và anh Ng không phát sinh xô xát, chị L và anh Ng cũng không báo cáo với chính quyền địa phương về mâu thuẫn vợ chồng nên giữa anh chị có mâu thuẫn gì không và tình trạng mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình nhưng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Bùi Đình Ng. Về con: Đề nghị giao cháu Bùi Thị Ngọc H cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Bùi Thị Ngọc M cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chị L và anh Ng không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Chị L và anh Ng không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Đề nghị buộc chị Phạm Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị L khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Đình Ng và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung; bị đơn - anh Ng có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt của bị đơn:

Tại phiên tòa ngày 07/7/2023, anh Ng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa, ấn định thời gian xét xử lại vụ án và tống đạt ngay Quyết định hoãn phiên tòa tới anh Ng. Tại phiên tòa lần thứ hai, anh Ng vắng mặt không có lý do.

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Ng là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Bùi Đình Ng tự nguyện kết hôn và có đăng lý kết hôn tại UBND xã Ng, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn anh chị đưa ra là khác nhau, tuy nhiên từ tháng 5/2023 đến nay, chị L đã về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Ng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị L được ly hôn anh Ng.

. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Cháu Bùi Thị Ngọc H, sinh ngày 10/8/2011 và cháu Bùi Thị Ngọc M, sinh ngày 02/8/2014. Ly hôn, chị L xin được trực tiếp nuôi cháu Ngọc M và xin giao cháu Ngọc H cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng, anh Ng xin được trực tiếp nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử nhận định: Chị L và anh Ng đều khỏe mạnh, đủ điều kiện để trực tiếp nuôi các con nên cần giao cho chị L và anh Ng mỗi người nuôi một con chung. Cháu Ngọc H xin được ở với bố, cháu Ngọc M xin được ở với mẹ nên giao cháu Ngọc H cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Ngọc M cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của các cháu và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị L cũng như anh Ng. Chị L và anh Ng mỗi người nuôi một con chung nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản và công nợ: Chị L và anh Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1,3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn anh Bùi Đình Ng.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Ngọc H, sinh ngày 10/8/2011 cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Bùi Thị Ngọc M, sinh ngày 02/8/2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L và anh Ng không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: AA/2021/0011495 ngày 11/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chị L đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ