vanban.org

Bản án 27/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn M. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn Hữu T, sinh ngày 10/10/2007 cho bà Hồ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên, ông M không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-3-2023
“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hiểu

2. Ông Sơn Nhật Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Như, Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023, về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 85/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 03 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị L, năm sinh 1989.

Địa chỉ: ấp B, xã S, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1985.

Địa chỉ: ấp R, xã L, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị L trình bày và yêu cầu như sau:

Bà Hồ Thị L và ông Nguyễn Văn M được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai vào năm 06/12/2007 theo giấy Chứng nhận kết hôn số 91/2007. Trong quá trình chung sống nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, giữa bà L và ông M xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống dẫn đến ly thân. Nhận thấy cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.

- Về con chung: Nguyên đơn bà Hồ Thị L khai có 01 con chung tên Nguyễn Văn Hữu T, sinh ngày 10/10/2007 hiện đang sống với bà L, bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn M đều vắng mặt các lần triệu tập của Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự và Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Hồ Thị L và ông Nguyễn Văn M xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai vào năm 06/12/2007 theo giấy Chứng nhận kết hôn số 91/2007 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Hồ Thị L và ông Nguyễn Văn M là hợp pháp.

Nguyên đơn bà Hồ Thị L trình bày rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa bà với ông Nguyễn Văn M thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên giữa vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân từ mấy năm nay không thể hàn gắn được. Hội đồng xét xử thấy căn cứ vào lời khai của bà Long cùng với việc trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Văn M để hòa giải nhằm làm rõ mâu thuẫn giữa hai bên để tìm giải pháp cho hai bên thỏa thuận, đoàn tụ với nhau nhưng ông M vắng mặt, như vậy chứng tỏ ông M không có ý chí muốn đoàn tụ với bà L. Ngoài ra, trong thời gian sống ly thân hai bên đương sự không tạo điều kiện cho nhau để cải thiện quan hệ vợ chồng, khắc phục sai lầm, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Vậy nên, Hội đồng xét xử nhận thấy sự việc mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Hồ Thị L và ông Nguyễn Văn M đã trở nên trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu nhưng không thể hàn gắn tình cảm nên việc bà Hồ Thị L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn M là có cơ sở chấp nhận.

Về quyền nuôi dưỡng con chung: Do bà Hồ Thị L là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn Hữu T, sinh ngày 10/10/2007 từ ngày ông bà sống ly thân cho đến nay, qua xác minh về nguồn thu nhập và điều kiện chăm sóc con thì bà L có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung để đảm bảo sự phát triển và ổn định đời sống cũng như việc học tập của con chung, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên giao con chung cho mẹ là bà Hồ Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Hồ Thị L đã được giải thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nguyên đơn có nghĩa vụ chịu án phí là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28; Điều 35; Điều 91, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn Hữu T, sinh ngày 10/10/2007 cho bà Hồ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên, ông M không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không có yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bà Hồ Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0014691 ngày 06 tháng 02 năm 20223 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên bà L không phải nộp thêm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ