vanban.org

Bản án 27/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Hoàng Thị B và anh Lý Vĩnh Ph.

Về nuôi con chung: Giao cháu Lý Hoàng Nguyệt A, sinh ngày 23/3/2011 và cháu Lý Hoàng Tú K, sinh ngày 09/02/2015 cho anh Lý Vĩnh Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Các bên có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; Có quyền, nghĩa vụ thăm nom co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án HNGĐ ST giữa Lý Vĩnh Ph - Hoàng Thị B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Hoàng Thị B và anh Lý Vĩnh Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 27/3/2023
"V/v: Ly hôn"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƢỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lê Thị Thận;

2/ Ông Trần Đức Hòa;

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 03/2023/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023, về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐST – HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Lý Vĩnh Ph, sinh năm: 1989

Nơi cư trú: Thôn 3, xã Th, huyện B, tỉnh Bình Phước

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị B, sinh năm: 1990

Nơi cư trú: Khu 6, TT N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề

nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 11 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lý Vĩnh Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị B tự nguyện tìm hiểu, tiến hành đăng ký kết hôn và đã được Uỷ ban nhân dân xã Th, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp giấy đăng ký kết hôn số 69, ký ngày 07/6/2011. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do giữa anh và chị Hoàng Thị B không thống nhất được với nhau về nơi sinh sống. Sau đó, chị Hoàng Thị B đi về quê sinh sống từ năm 2020. Từ đó, vợ chồng sống ly thân, không có quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cho đến nay. Nay, vợ chồng không thể đoàn tụ nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Hoàng Thị B.

Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị B có hai con chung tên là Lý Hoàng Nguyệt A, sinh ngày 23/3/2011 và Lý Hoàng Tú K, sinh ngày 09/02/2015. Anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu và không yêu cầu giải quyết Tòa án cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

Bị đơn chị Hoàng Thị B vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án chị Hoàng Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị xác nhận vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện B, tỉnh Bình Phước. Chị thừa nhận trong thời gian chung sống chị và anh Lý Vĩnh Ph xảy ra mâu thuẫn, thường xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau và có tác động vật lý. Vợ chồng không có tiếng nói chung trong công việc và cuộc sống. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2019. Đến cuối năm 2019 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Vợ chồng ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn nên chị đồng ý ly hôn với anh Lý Vĩnh Ph.

Về con chung: Chị hoàn trí với lời khai của anh Lý Vĩnh Ph về con chung. Đối với nguyện vọng nuôi dưỡng con chung của anh Lý Vĩnh Ph, chị đồng ý.

Không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị HĐXX công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B.

Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao cháu Lý Hoàng Nguyệt A, sinh ngày 23/3/2011 và Lý Hoàng Tú K, sinh ngày 09/02/2015 cho anh Lý Vĩnh Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

Về cấp dưỡng: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Hoàng Thị B (là bị đơn) vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Hoàng Thị B.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B đều khai nhận anh chị có đăng ký kết hôn và đã được Uỷ ban nhân dân xã Th, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp giấy chứng nhận kết hôn số 69, ký ngày 07/6/2011. Lời khai của anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn đã được giao nộp hợp pháp (bút lục số 02). Khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch”. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B là hợp pháp.

Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn anh Lý Vĩnh Ph: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị B và anh Lý Vĩnh Ph đều khai nhận trong thời gian chung sống vợ chồng có nảy sinh mâu thuẫn, có những bất đồng trong cuộc sống. Mặt khác, anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B đều thừa nhận vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay. Hiện nay, chị Hoàng Thị B và anh Lý Vĩnh Ph đều xác nhận không có nguyện vọng đoàn tụ gia đình và yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn của anh chị là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc hòa giải đoàn tụ không còn ý nghĩa. Do đó, căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị Hoàng Thị B và anh Lý Vĩnh Ph.

Về con chung: Anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B khai nhận vợ chồng có 02 con chung tên là Lý Hoàng Nguyệt A, sinh ngày 23/3/2011 và Lý Hoàng Tú K, sinh ngày 09/02/2015. Lời khai của anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B phù hợp với giấy khai sinh đã được giao nộp hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B thống nhất giao cháu Lý Hoàng Nguyệt A, sinh ngày 23/3/2011 và Lý Hoàng Tú K, sinh ngày 09/02/2015 cho anh Lý Vĩnh Ph trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét, anh Lý Vĩnh Ph đều có nhà cửa, công việc, có nguồn thu nhập và các điều kiện khác đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con chung. Trong thời gian anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B sống ly thân, Lý Hoàng Nguyệt A và Lý Hoàng Tú K được anh Lý Vĩnh Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lý Vĩnh Ph và chị Hoàng Thị B thống nhất giao cháu Lý Hoàng Nguyệt A và Lý Hoàng Tú K cho anh Lý Vĩnh Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, xuất phát từ lợi ích về mọi mặt của hai cháu, đảm bảo sự ổn định về môi trường sống và tâm sinh lý cho hai cháu. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Lý Hoàng Nguyệt A và Lý Hoàng Tú K cho anh Lý Vĩnh Ph trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị B, anh Lý Vĩnh Ph không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản chung: Chị Hoàng Thị B, anh Lý Vĩnh Ph không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Hoàng Thị B, anh Lý Vĩnh Ph không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, nguyên đơn anh Lý Vĩnh Ph phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 55; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Hoàng Thị B và anh Lý Vĩnh Ph.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lý Hoàng Nguyệt A, sinh ngày 23/3/2011 và cháu Lý Hoàng Tú K, sinh ngày 09/02/2015 cho anh Lý Vĩnh Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Các bên có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; Có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị B, anh Lý Vĩnh Ph không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về chia tài sản chung: Chị Hoàng Thị B, anh Lý Vĩnh Ph không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về nợ chung: Chị Hoàng Thị B, anh Lý Vĩnh Ph không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

6. Về án phí: Nguyên đơn anh Lý Vĩnh Ph phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0000845 ký ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Phước.

7. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2023). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ