- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Văn Q, giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 27/2023/HNGĐ-PT Ngày: 11/9/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương
Các Thẩm phán:
Bà Đỗ Thị Nhung
Bà Nguyễn Thị Lệ Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Nguyễn Đình Thắng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 63/2023/TLPT-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 15/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 19/4/2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 18/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 10/5/2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 23/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 30/5/2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 29/2023/QĐPT-HNGĐ ngày16/6/2023; Thông báo thời gia mở lại phiên tòa số 154/TB-TA ngày 29/6/2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 32/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 14/7/2023; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 198/TB-TA ngày 07/8/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2001.
Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Nơi ở hiện nay: Xóm Nhâm, xã Nghĩa An, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị L: Bà Lê Thị O, sinh năm 1963 và ông Dương V, sinh năm 1953 – Văn phòng Luật sư Dương V; Địa chỉ: 9/1, khu phố 1, phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1993.
Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
1
Do có đơn kháng cáo của bị đơn anh Phạm Văn Q.
(Chị L, anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung án sơ thẩm:
Nguyên đơn trình bày: Trên cơ sở tự nguyện, vào năm 2020, chị và anh Phạm Văn Q tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Lý, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không tin tưởng nhau, không tìm được tiếng nói chung, không ai chịu nhường nhịn ai nên từ đó vợ chồng hay cãi nhau, anh Q thường xuyên đánh đập chị. Do không chịu nổi sự vô tâm và đòn roi của chồng nên tháng 4/2021 chị đã đưa con về nhà mẹ ruột tại Nghệ An sống, sau đó một thời gian chị có đưa con ra Nam Định để thăm nhà nội thì gia đình anh Q giữ con lại cho đến nay. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh Qnên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Phạm H, sinh ngày 16/2/2021. Hiện nay cháu H đang ở cùng với anh Q. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Phạm Văn Q trình bày:
Anh thống nhất trình bày của chị L về điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung.
Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thì anh cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, thỉnh thoảng vợ chồng có cãi nhau do bất đồng trong việc chăm sóc con cái, chị L mỗi lần giận anh là ôm con bỏ nhà đi, rồi anh lại đi tìm về. Chị L cứ đi rồi về cho đến tháng 08/2022 thì anh phát hiện chị L có tình cảm với người đàn ông khác nên anh chị không còn sống chung với nhau cho đến nay. Nay chị L yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý ly hôn vì anh là người theo đạo Thiên chúa, hơn nữa anh còn tình cảm với chị L, muốn đoàn tụ để cùng nhau nuôi con.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Phạm H, sinh ngày 16/2/2021. Hiện nay cháu H đang sống với anh. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh không yêu cầu chị L cấ dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
2
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Phạm Văn Q.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm H, sinh ngày 16/2/2021 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị L không yêu cầu anh Qcấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Anh Qđược quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, việc thi hành bản án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 10/01/2023, bị đơn anh Phạm Văn Q có đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng sửa bản án sơ thẩm giao con chung cho bị đơn anh Qchăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Bị đơn anh Phạm Văn Q kháng cáo yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm H, sinh ngày 16/02/2021. Xét thấy, tại thời điểm xét xử sơ thẩm cháu H chưa đủ 36 tháng tuổi, nguyên đơn chị L có đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc nuôi dưỡng cho cháu. Chị L cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, cháu H là con gái nên việc giao con chung cho mẹ là chị L được chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp cho sự phát triển thể chất và tâm lý của cháu, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn anh Phạm Văn Q làm đơn kháng cáo trong thời hạn và đóng tạm ứng án phí theo quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
3
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Phạm Văn Q có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
[2] Về nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo của anh Phạm Văn Q, yêu cầu Tòa án giao con chung là cháu Phạm H, sinh ngày 16/2/2021 cho anh Qtrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
Xét thấy, Chị L, anh Q đều có nguyện vọng nuôi con chung. Xét về điều kiện thực tế thì chị L, anh Q đều có điều kiện kinh tế, có thu nhập, có sức khoẻ, có phẩm chất đạo đức tốt nên đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, cháu H mới hơn hai tuổi và lại là con gái nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo sự phát triển toàn diện cho cháu. Anh Q kháng cáo cho rằng chị L không đủ điều kiện nuôi cháu H là không có căn cứ vì hiện tại thu nhập của chị L là 15.000.000đ/tháng, chị L còn có bà ngoại hỗ trợ trong việc chăm sóc cho cháu. Chị L khai khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn chị đã đưa con về nhà mẹ ruột chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu được 18 tháng tuổi thì anh Q tới đưa cháu đi và ngăn cản không cho chị gặp con, điều nay anh Q cũng không phủ nhận.
Từ những căn cứ trên, không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc
[3] Về án phí: Anh Phạm Văn Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Văn Q, giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
Áp dụng các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Phạm Văn Q.
4
2. Về con chung: Giao cháu Phạm H, sinh ngày 16/2/2021 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Anh Q được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai thu số 0006898 ngày 24/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.
Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị L số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006897 ngày 24/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.
Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Anh Phạm Văn Q phải chịu 300.000đ án phí phúc thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Qđã nộp theo biên lai thu tiền số 0007191 ngày 10/01/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc. Anh Qđã nộp đủ án phí phúc thẩm.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND H.Xuân Lộc; - Cục THADS tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS H.Xuân Lộc; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thị Thu Hương |