vanban.org

Bản án 27/2023/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147 khoản 2 Điều 165, Điều 241, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 468, khoản 1 Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điề u 615, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 658, Điều 660 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 167 và Điều 179 của Luật Đất đai ; khoản 2 Điề u 71 Luậ t hôn nhân gia đì nh năm 2014; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về thừa kế tài sản"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147 khoản 2 Điều 165, Điều 241, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/DS-ST
Ngày: 27 - 9 - 2023
V/v tranh chấp chia di sả n thừ a kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳ nh Tấ n Sinh.

2. Ông Phạ m Thế Chiế n.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hoà i - Thẩ m tra viên Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 141/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp chia di sả n thừ a kế ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

+ Bà Vũ Thị G, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Bị đơn:

+ Ông Vũ Minh C, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

+ Ông Vũ Văn T, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Ngườ i là m chứ ng:

+ Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1939;

Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

+ Bà Vũ Thị G, sinh năm 1952;

Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

(Tấ t cả ngườ i là m chứ ng đề u vắ ng mặ t)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khở i kiệ n ghi ngà y 08/11/2022 và quá trình giải quyết vụ án , nguyên đơn bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B là con đẻ của cụ Nguyễn Thị N (tên thường gọi là Nguyễn Thị Đ1). Cụ N sinh được 05 người con gồm: Vũ Thị T1, Vũ Minh C, Vũ Văn T, Vũ Thị G, Nguyễn Thị B. Chồng cụ N là cụ Vũ Minh Đ2 đã chết năm 1957 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Bà Vũ Thị T1, ông Vũ Minh C là con đẻ của cụ Đ2 và cụ N. Còn ông Vũ Văn T, bà Vũ Thị G và bà Nguyễn Thị B là con riêng của cụ N với người đàn ông khác, còn ai thì bà G, bà B không biết. Bố mẹ cụ N đã chết, ngoài những người thừa kế trên thì cụ N không còn người thừa kế nào.

Vào tháng 3/1977, cụ N cùng 05 người con đi làm kinh tế mới ở tại thôn Q, xã E, huyện K. Tuy nhiên, đến cuối năm 1977 ông C lại về Thái Bình sinh sống, đến năm 1995 mới quay lại thôn Q, xã E, huyện K sống cùng với cụ N.

Khi làm kinh tế mới , cụ N, bà T1 và ông T khai hoang được diện tích đất khoảng hơn 03 ha, trong đó diện tích đấ t của bà T1 khoảng 01 ha, của ông T là 1,7 ha, còn lại của cụ N khoảng 4.000 m2. Ngày 27/7/1994 cụ N được UBND huyện K cấp Giấ y ch ứng nhận quyền sử dụng đất (viế t tắ t là GCNQSDĐ ) thửa đất số 106, tờ bản đồ số 26, diện tích 3.800 m2, đấ t tọa lạc tại thôn Q, xã E, huyện K mang tên Nguyễn Thị Đ1 là tên thường gọi khác củ a cụ N, cụ N là người đi đăng ký làm thủ tục cấp GCNQSDĐ nhưng quá trình kê khai do khai tên thườ ng gọ i khá c nên GCNQSDĐ mang tên là Nguyễn Thị Đ1. Sau khi nhận GCNQSDĐ, vì không để ý nên cụ N không làm thủ tụ c đính chính lại tên của mình cho đú ng tên trong khai sinh, hộ khẩ u, chứ ng minh nhân dân trên GCNQSDĐ. Cụ N sống trên diện tích đất này cùng với bà G và bà B. Năm 1989, bà G lập gia đình ra ở riêng, năm 1992 bà B lập gia đình nhưng vẫn sống cùng cụ N mộ t thờ i gian. Năm 1995, ông C từ tỉnh Thái Bình vào sinh số ng vớ i cụ N được 01 tháng cụ N cho ông C ra ở riêng, đồng thời bà G vớ i cụ N thống nhất để ông C mượn một phần diện tích đất khoảng hơn 1.000 m2 cụ N đang quản lý , sử dụng làm nhà ở . Cụ N một mình sinh hoạ t trên phần diện tích đất còn lại. Khi mượn đấ t, các bên không lập giấy tờ gì mà chỉ trao đổ i nó i với nhau , khoảng năm 1998 vợ chồng ông C xây dựng 01 căn nhà cấp 4 diện tích khoảng 50 m2 ở cho đến nay , đất còn lại cụ N vẫn quản lý, sử dụng đến khi chết năm 2015, khi chế t cụ N không để lạ i di chú c. Sau khi cụ N chết diện tích đất còn lại củ a cụ N do ông Thanh quản l, sử dụng cho đến nay. Trước khi chết cụ N không nợ tiề n ai. Về chi phí mai tá ng cụ N được lấy từ tiền phúng viếng để khấu trừ vào nên không có người con nào phải chị u thêm tiề n.

Sau khi cụ N chế t, bà G, bà B có trao đổi với ông C, ông T về chia di sả n thừ a kế củ a cụ N nhưng cá c bên không thố ng nhấ t đượ c sự phân chia . Nay bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu Tò a á n phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị N (tên gọ i khá c Nguyễn Thị Đ1) là thửa đất số 106, tờ bản đồ số 26, diện tích 3.800 m2 (kết quả đo đạc thự c tế 4.232,4 m2), đấ t tọa lạc tại thôn Q, xã E, huyện K, được UBND huyện K cấp GCNQSDĐ ngày 27/7/1994 mang tên Nguyễn Thị Đ1 theo quy đị nh phá p luậ t; khi phân chia di sả n bà G, bà B đề nghị được nhận tiền, còn tài sản trên diện tích đất này thì các bà không đề nghị chia.

* Theo bả n tự khai và quá trì nh giả i quyế t vụ á n bị đơn ông

Vũ Minh C trình bày:

Ông Vũ Minh C thố ng nhấ t ý kiế n bà G, bà B trình bày về mối quan hệ huyế t thố ng cụ Nguyễn Thị N (tên thường gọi là Nguyễn Thị Đ1) là mẹ đẻ của 05 người con gồm: Vũ Thị T1, Vũ Minh C, Vũ Văn T, Vũ Thị G, Nguyễn Thị B. Chồng cụ N là cụ Vũ Minh Đ2 chết năm 1957. Bà Vũ Thị T1, ông Vũ Minh C là con đẻ của cụ Đ2 và cụ N. Còn ông Vũ Văn T, bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B là con riêng của cụ N với người đàn ông khác, còn ai thì ông C không biết. Bố mẹ đẻ của cụ N đã chết từ lâu. Ngoài những người thừa kế nêu trên thì cụ N không còn người thừa kế nào.

Tháng 3/1977, cụ N cùng 05 người con đi kinh tế mới đế n ở thôn Q, xã E, huyện K đượ c nhà nước cấp đấ t 1.000 m2 để sinh sống. Tuy nhiên, khoảng tháng 7/1977 do không thích nghi được với điều kiện sống nên ông C và bà G quay về tỉnh Thái Bình sinh sống . Cuối năm 1978, cụ N đưa bà B về lại Thái Bình sống cùng với ông C. Tháng 02/1980 cụ N đưa bà B và bà G vào lại thôn Q, xã E, huyện K sinh sống cho đến năm 1982 thì lại về Thái Bình.

Khi vào là m kinh tế mới, ngoài diện tích đất được nhà nước cấp 1.000 m2 thì bà T1 và ông T còn khai hoang được diện tích đất khoảng 03 ha, trong đó diện tích đấ t của bà T1 là 1,3 ha, ông T là 1,7 ha.

Năm 1983, cụ N quay lại thôn Q sinh số ng cùng ông T, bà T1 không còn ở trên đất 1.000 m2 mà chuyển về đất ông T, bà T1 khai hoang. Năm 1985, ông T lập gia đình chia cho cụ N, bà B, bà G một phần diện tích đất là 3.800m2 của ông T, diện tích đất nà y của cụ N đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ nhưng đã bị thất lạc.

Năm 1995, ông C vào ở với cụ N khoảng 02 tháng thì cụ N cho ông C ra ở riêng và chia cho ông C một phần diện tích đất khoảng 2.000 m2 mà cụ N đang quản lý, sử dụng. Việc chia đất chỉ có cụ N quyết định và không bàn bạc gì với các con trong gia đình. Sau khi được cụ N chia đất vợ chồng ông C đã dựng nhà để ở, quá trình sử dụng đất ông T, bà T1, bà B, bà G không ai có ý kiến hay tranh chấp gì.

Từ cuố i năm 1996 cụ N ở một mình, ông T là người trực tiếp chăm sóc , phụng dưỡng cụ N nên phần đất còn lại cụ N giao cho ông Thanh quản l, sử dụng từ năm 1996 cho đến nay, quá trình ông Thanh quản l, sử dụng đất không ai có ý kiến gì, cụ N chết vào năm 2015, trước khi cụ N chết không nợ tiề n ai , về chi phí mai tá ng cho cụ N do ông T lo liệu còn cụ thể hết bao nhiêu ông C không biết. Mặt khác toàn bộ số tiền phúng viếng ông T đều giữ và quản lý để trừ vào khoản tiền mai tá ng cụ N, còn số tiền bao nhiêu thì ông C không biết, trước khi chết cụ N không lập di chúc.

Nay bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế đấ t của cụ Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị Đ1) thì ông không đồng ý . Vì cụ N đã tặng đất cho ông C từ năm 1996, vợ chồng ông đã ở ổn định cho đến nay. Mặt khác, kể từ năm 2005 cho đến nay gia đình ông C đều thực hiện mọi nghĩa vụ nộp thuế theo quy định. Về chưa tách thửa cấp GCNQSDĐ đối với phần đất vợ chồ ng ông đang quả n lý , sử dụng thì gia đình ông nghĩ rằng không có tranh chấp với ai nên chưa cần thiết là m.

* Theo bả n tự khai và quá trì nh giả i quyế t vụ á n bị đơn ông Vũ Văn T trình bày:

Ông Vũ Văn T đồ ng ý vớ i ý kiế n củ a bà G, bà B, ông C về mố i quan hệ huyế t thố ng gia đì nh cụ Nguyễn Thị N (tên thường gọi là Nguyễn Thi Đ3) là mẹ của 05 ngườ i con, chồng cụ N là ông Vũ Minh Đ2 đã chết. Bà Vũ Thị T1, ông Vũ Minh C là con đẻ của cụ Đ2 và cụ N, còn ông Vũ Văn T thì do thời điểm đó còn nhỏ nên không biết bố đẻ của ông T có phải là ông Đ2 hay không. Bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B là con riêng của cụ N với người đàn ông khác, ai thì ông T không biết. Bố mẹ cụ N đã chết.

Tháng 3/1977, cụ N cùng 05 người con đi là m kinh tế mới tại thôn Q, xã E, huyện K. Tuy nhiên, 02 năm sau do không thích nghi được với điều kiện sống nên cụ N cùng ông Vũ Minh C, bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B lại về tỉ nh Thái Bình . Khoảng 02 năm sau thì cụ N, bà G, bà B lại vào thôn Q, xã E, huyện K để sinh sống, còn ông C vẫn sống tại tỉ nh Thái Bình.

Khi vào làm kinh tế mới, bà T1 và ông T khai hoang được khoảng 03 ha đấ t (bà T1 là 1,3 ha, còn ông T là 1,7 ha). Sau khi cụ N quay lại thôn Q thì ông T chia cho cụ N, bà B, bà G diện tích đất 3.800m2 trên phần đất của ông T, đấ t đã đượ c cấp GCNQSDĐ cho cụ N nhưng bị thất lạc.

Sau khi bà G, bà B lập gia đình đều ra ở riêng. Năm 1995, ông C vào sống cùng với cụ N được khoảng 02 tháng cụ N cho ông C ra ở riêng và chia cho ông C khoảng 2.000 m2 đấ t, việc chia đất cụ N tự quyết định và không bàn bạc với người con nào. Sau đó ông T, bà T1, bà G, bà B có biết sự việc cụ N chia đất cho ông C nhưng không ai có ý kiến gì. Diện tích đất còn lại cụ N giao cho ông Thanh quản l, sử dụng từ năm 1996, đồng thời ông T phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cụ N đến khi qua đời. Khi cụ N chia đất cho ông C và ông T chỉ nói với nhau, không lập giấy tờ và cũng không bàn bạc với ai . Sau đó cụ N có lập di chúc để lại phần diện tích đấ t 1.800 m2 còn lại cho ông T được đại diện Ban tự quản thôn Quỳnh N1 và Chủ tịch UBND xã E xác nhận. Việc lập di chúc chỉ có ông T và cụ N biết, bản di chúc này đã bị thất lạc.

Sau khi được cụ N chia đất, khoảng năm 1997 vợ chồng ông C xây dựng 01 căn nhà cấp 4 ở cho đến nay , ngoài ra trên đất vợ chồng ông C còn trồng các loại cây trồng khác . Về đất cụ N giao cho ông Thanh quản l năm 1996 ông đã trồng cây ăn trá i và mộ t số cây khá c , về nhà cụ N xây dựng không có gì thay đổi cho đến nay. Trước khi cụ N chết không nợ tiề n ai . Khi cụ N chết ông T đã lo toàn bộ mọi chi phí mai tá ng hế t khoảng 80.000.000 đồng. Còn số tiền phúng viếng khoảng 40.000.000 đồng các anh em thống nhất giao cho ông Thanh quản l để trừ vào các khoản chi phí ma tá ng.

Nay bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế quyề n sử dụ ng đấ t của cụ Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị Đ1) theo quy định của pháp luật thì ông T không đồng ý. Vì, cụ N đã giao đất cho ông Thanh quản l, sử dụng từ năm 1996 không ai có ý kiến gì và thời điểm đó anh em sống hoà thuận với nhau không ai tranh chấp nên ông T cũng không làm thủ tục sang tên đổi chủ diện tích đất còn lại của cụ N sang ông T.

Trường hợp phải chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, ông T ý kiế n đề nghị Tò a á n xem xé t khấu trừ số tiền ông T đã bỏ ra để lo mai tá ng cho cụ N hế t 80.000.000 đồng và số tiền ông T đã chăm sóc , phụng dưỡng cụ N từ năm 1996 đến năm 2015 là 20 năm tương ứng với số tiền 480.000.000 đồng.

* Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T1 trình bày:

Bà Tam thống nhất ý kiến ông C, ông T, bà B, bà G trình bày về mối quan hệ huyế t thố ng gia đì nh , nguồn gố c đất tranh chấp hiệ n nay mà cụ N chế t năm 2015, khi chế t không để lạ i di chú c và hàng thừa kế của cụ N như ý kiến của ông C, ông T đã trình bày trên. Về chi phí mai tá ng cụ N do ông T lo liệu còn cụ thể hết bao nhiêu bà T1 không biết. Mặt khác toàn bộ số tiền phúng viếng ông T đều giữ và quản lý để trừ vào khoản tiền mai tá ng cho cụ N, còn cụ thể bao nhiêu tiền bà không biết.

Nay bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu Tò a á n phân chia di sản thừa kế đấ t của cụ Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị Đ1) thì bà T1 không đồng ý chia, vì đất của cụ N đã tặng cho ông C và ông T.

Trường hợp phải chia di sản thừa kế của cụ N theo quy định của pháp luật thì bà T1 có ý kiến tặng cho lại phần thừa kế củ a mình được nhận và chia đều cho ông C, ông T.

* Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà Đ nhất trí với ý kiến trình bày của ông Vũ Minh C là chồng bà nêu trên , bà Đ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Ngườ i là m chứ ng cụ Nguyễn Văn T2, cụ Vũ Thị G trình bày:

Ông Nguyễn Văn T2 là em họ của cụ Nguyễn Thị N, bà Vũ Thị G là em dâu của cụ Nguyễn Thị N (tên thường gọi là Nguyễn Thị Đ1).

Vào năm 1977, gia đình ông T2, bà G, bà N cùng các con đi làm kinh tế mới tại thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, 02 năm sau do không thích nghi được với điều kiện sống nên cụ N và 03 người con là Vũ Minh C, Vũ Thị G, Nguyễn Thị B lại về tỉ nh Thái Bình . Khoảng 02 năm sau thì bà N, bà G, bà B lại vào thôn Q, xã E, huyện K, còn ông C vẫn ở tại tỉ nh Thái Bì nh. Khi vào làm kinh tế mới, bà T1 và ông T khai hoang được diện tích đất khoảng 03 ha. Sau đó cụ N quay lại thôn Q để sinh sống thì ông T chia cho cụ N, bà B, bà G một phần đất của ông T. Bà G và bà B lập gia đình đều ra ở riêng, một mình cụ N sống trên diện tích đấ t mà ông T chia cho cụ N. Mộ t thờ i gian sau ông C vào ở cùng cụ N trên diện tích đất của cụ N nhưng do hai mẹ con không ở được với nhau nên cụ N cho ông C ra ở riêng và chia cho ông C một nử a diện tích đất mà cụ N đang quản lý. Đối với diện tích đất còn lại của cụ N cho ông Thanh quản l và ông T phải có nghĩa vụ chăm sóc phụng dưỡng cụ N đến khi qua đời. Việc chia đất như thế nào ông T2, bà G không biết và cũng không chứng kiến. Ông T2, bà G chỉ biết việc này khi được cụ N kể lại cho nghe. Sau khi được cụ N chia đất gia đình ông C dựng nhà để ở và ông Thanh quản l, sử dụ ng không thấy tranh chấp gì.

Vì ông T2, bà G hiện nay tuổi đã cao, sức khoẻ yếu, đi lại khó khăn nên ông T2, bà G đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt ông bà trong tất cả c ác buổi làm việc cũng như tại phiên toà xét xử vụ án này. Ông T2, bà G không có ý kiến bồ sung gì thêm.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng cá c bên đương sự vẫn không thống nhất , thỏa thuận được với nhau, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa.

* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Krông Ana , tỉnh Đắk Lắk:

- Về trình tự thủ tục tố tụng:

Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Cụ Nguyễn Thị N (tên gọ i khá c Nguyễn Thị Đ1) chế t ngày 20/9/2015, khi chế t không để lạ i di chú c, các đương sự đều thừa nhận cụ N có 05 ngườ i con gồ m: Vũ Thị T1, Vũ Minh C, Vũ Văn T, Vũ Thị G, Nguyễn Thị B. Di sả n củ a cụ N để lại là thửa đất số 106, tờ bản đồ số 26, diện tích 3.800 m2 (kết quả đo đạc thự c tế 4.232,4 m2), đấ t tọa lạc tại thôn Q, xã E, huyện K, được UBND huyện K cấp GCNQSDĐ ngày 27/7/1994 mang tên Nguyễn Thị Đ1. Việ c bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B khởi kiện đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của mẹ cá c bà là cụ Nguyễn Thị N (tên gọ i khá c Nguyễn Thị Đ1) cầ n chấ p nhậ n . Tuy nhiên khi phân chia di sả n thừ a kế cầ n xem xé t chấ p nhậ n ý kiế n củ a ông T đã bỏ chi phí mai tá ng cho cụ N số tiề n 80.000.000đồ ng trừ đi số tiề n ông T giữ 40.000.000 đồ ng tiề n phú ng viế ng, còn lại trả ông T 40.000.000đồ ng và xem xé t tí nh công sứ c tôn tạ o, quản lý di sản của ông T, ông C trừ và o giá trị di sả n củ a cụ N để lại là phù hợ p.

Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

. Về quan hệ pháp luật: Bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B khởi kiện đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của mẹ cá c bà là cụ

Nguyễn Thị N (tên gọ i khá c Nguyễn Thị Đ1) đã chế t và o ngày 20/9/2015, khi cụ N chết không để lại di chúc , tài sả n cụ N là 01 lô đất tọa lạc tại thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là quan hệ “Tranh chấp về chia di sả n thừa kế” theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý, giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền.

. Về thủ tục tố tụng: Ngườ i là m chứ ng ông Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị G đã được Tòa án nhân dân huyệ n Krông Ana triệu tập hợp lệ nhưng vẫ n Vắ ng mặ t . Áp dụng Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ, theo thủ tục quy định chung.

. Về nội dung:

. Về diện và hàng thừa kế : Theo Bả n sao Giấy chứng tử số 312, quyển số 56 ngày 26/8/2022 của UBND xã E thì cụ Nguyễn Thị N (tên gọ i khá c là Nguyễn Thị Đ1) chết vào ngày 20/9/2015; cụ N chế t không để lại di chúc . Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 611, Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự thì diện và hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Thị N gồm: Bà Vũ Thị T1, ông Vũ Minh C, ông Vũ Minh T3, bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B.

. Chia di sản thừa kế: Hội đồng xét xử xét thấy:

. Các đương sự đều thống nhất bà Vũ Thị T1, ông Vũ Minh C, ông Vũ Minh T3, bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B đều là con đẻ của cụ Vũ Thị N2 (tên gọ i khác Vũ Thị Đ4) và nguồn gốc đất di sản của cụ N2 là 01 lô đất thửa số 106, tờ bản đồ số 26, diện tích 3.800m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 4.232,4m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 được UBND huyện K cấp ngày 27/7/1994 mang tên bà Nguyễn Thị Đ1, đất tọa lạc tại thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; hiệ n nay thử a đấ t số 106 đượ c tá ch là m 02 thử a đấ t, gồ m thử a đấ t số 55, diệ n tí ch 2.443,2m2 và thửa đất số 56, diệ n tí ch đấ t 1.789,2m2.

- Về thử a đấ t số 56, tờ bả n đồ mớ i là tờ 86 (tờ bả n đồ cũ là tờ 26), diệ n tí ch đấ t 1.789,2m2, hiệ n nay ông Vũ Minh C và bà Nguyễn Thị Đ đang quả n lý , sử dụng; đấ t có tứ cậ n:

Phía Bắc giáp đường đất dài 46,56m; Phía Nam giáp thửa đất số 67 dài 43,81m; Phía Tây giáp thửa đấ t số 55 (hiệ n nay ông Vũ Văn T quản lý ) dài 39,79m; Phía Đông giáp thửa đất số 62, dài 39,50m.

Tài sản trên đất gồ m: 01 căn nhà cấ p 4 xây năm 2005, nề n lá ng xi măng, cử a gỗ , trầ n vá n gỗ ; 01 căn nhà bế p và cá c loạ i công trì nh khá c có kế t cấ u má i lợ p tôn , tườ ng xây gạ ch; 01 giế ng đà o sâu, đườ ng kí nh 1m; phía Bắc có kéo hàng rào B 40 dài 30m; Về cây trồ ng trên đấ t gồ m có 23 cây vả i, 50 cây chanh, 30 cây sưa, 5 cây mít thái, 06 cây sầ u riêng, 20 cây muồ ng.

- Về thử a đấ t số 55, tờ bả n đồ mớ i là tờ 86 (tờ bả n đồ cũ là tờ 26), diệ n tí ch đấ t 2.443,2m2, hiệ n nay ông Vũ Văn T đang quả n lý , sử dụ ng; thử a đấ t có tứ cậ n:

Phía Bắc giáp đường đất và thửa đất số 42, dài 69,03m;

Phía Nam giáp thửa đất số 64 và 67, dài 54,91m;

Phía Tây giáy thửa đất số 58, dài 37,53m;

Phía Đông giáp thửa đất số 56 (đấ t ông Vũ Minh C đang quả n lý , sử dụ ng), dài 39,79m;

Tài sản trên đất gồm : 01 căn nhà xây cấ p 4 diệ n tí ch 40m2, xây năm 1988, tườ ng xây gạ ch có tô trá t xi măng , nề n lá ng xi măng , mái lợp ngói ; 01 giế ng đà o sâu 12m, đườ ng kí nh 1,4m; 01 giế ng khoan sâu 50m; hàng rào B40 bao quanh; về cây trồ ng trên đấ t gồ m: 300 cây cau, 06 cây sầ u riêng, 14 cây sao; ngoài ra trên đất có 01 ao cá diệ n tí ch 263,7m2, sâu 1,5m.

. Xét tài sản trên đất của th ửa số 106, tờ bản đồ số 26, diện tích 3.800m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 4.232,4m2) hiệ n nay đã tá ch là m 02 thử a đấ t, gồ m thử a số 55, diệ n tí ch 2.443,2m2 và thửa đấ số 56, diệ n tí ch đấ t 1.789,2m2 thì nguyên đơn bà B, bà G không yêu cầ u chia cho nên Hộ i đồ ng xé t xử không đặ t ra xem xé t giả i quyế t.

. Xét ý kiến của ông Vũ Minh C cho rằ ng năm 1995 ông C vào ở cùng cụ N2 trên diệ n tí ch đấ t 3.800m2 (đo thự c tế là 4.232,4m2) đượ c khoả ng 2 tháng cụ N2 cho ông C ra ở riêng và chia cho ông C khoảng 2.000m2 đấ t cụ N2 đang quả n lý, việ c chia đấ t cụ N2 quyế t đị nh và không bà n bạ c vớ i cá c con , sau khi chia đấ t vợ chồ ng ông C đã xây nhà để ở thì ông T, bà B, bà G không ai có ý kiế n . Tuy nhiên, nguyên đơn bà B, bà G không thừ a nhậ n và ông C cũng không có tài liệu , chứ ng cứ gì chú ng minh cho ý kiế n củ a mì nh nên không có cở sở chấ p nhậ n ý kiế n này của ông C.

. Xét ý kiến của ông Vũ Văn T cho rằ ng sau khi chia đấ t cho ông C khoảng 2.000m2 thì diện tích đất còn lại 1.800m2 cụ N2 giao cho ông Thanh quản l, sử dụ ng từ năm 1996 và ông T có nghĩa vụ chăm sóc , phụng dưỡng cụ N2 cho đến khi qua đờ i; việ c chia giao đấ t cho ông C, ông T chỉ có nói với nhau không lập văn bả n gì , không bà n bạ c vớ i ai . Sau đó cụ N2 có làm di chúc để lại diện tích đất 1.800m2 cho ông T, đượ c đạ i diệ n Ban quả n lý thôn Q, Chủ tịch UBND xã E xác nhậ n nhưng hiệ n nay bả n di chú c đã thấ t lạ c không cò n . Tuy nhiên, nguyên đơn bà B, bà G không thừ a nhậ n và ông T cũng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho ý kiế n củ a mì nh nên không có cở sở chấ p nhậ n ý kiề n nà y củ a ông T.

Xét ý kiến của ông T cho rằ ng khi cụ N2 chế t thì ông là ngườ i đã chị u mọ i chi phí mai tá ng hế t khoả ng 80 triệ u, số tiề n phú ng viế ng đượ c 40 triệ u cá c anh em thố ng nhấ t giao cho ông T để trừ vào các khoản chi phí mai táng ; trườ ng hợ p chia di sả n củ a cụ N2 theo quy đị nh phá p luậ t thì đề nghị Tò a á n khấ u trừ số tiề n ông bỏ ra để lo mai tá ng cho cụ N2 80.000.000đồ ng cù ng vớ i số tiề n ông đã chăm só c , phụng dưỡng cụ N2 từ năm 1996 cho đế n năm 2015 là 20 năm tương ứ ng vớ i số tiề n 480.000.000đồ ng.

Xét thấy đối với chi phí mai táng các đương sự đều thừa nhận do ông T chịu mọi chi phí nhưng không biết hết bao nhiêu , ông T không đưa ra tà i liệ u chứ ng cứ chứ ng minh cụ thể hế t bao nhiêu và nguyên đơn cho rằ ng tiề n phú ng viế ng đã đủ lo hế t chi phí mai tá ng cho cụ N2 nhưng cũ ng không đưa ra tà i liệ u chứ ng cứ chứ ng minh. Tuy nhiên, xét thực tế mọi chi phí mai táng cụ N2 do ông T chi trả toà n bộ cho nên cầ n chấ p nhậ n chi phí mai tá ng ông

T đã chi trả 80.000.000đồ ng trừ 40.000.000đồ ng tiề n phú ng viế ng ông T giữ , còn lại ông T chi trả 40.000.000đồ ng cầ n trừ và o di sả n củ a cụ N2 để trả lại cho ông T 40.000.000đồ ng là phù hợ p.

Xét ý kiến của ông T đề nghị Tòa án trừ số tiền 480.000.000đồ ng và o di sả n của cụ N2 mà ông đã chăm sóc , phụng dưỡng cụ N2 từ năm 1996 đến năm 2015, căn cứ quy đị nh tạ i khoả n 2 Điề u 71 Luậ t hôn nhân gia đì nh năm 2014 thì con cái có nghĩa vụ và quyền chăm sóc và nuôi dưỡng cha mẹ cho nên việc ông T đề nghị tính trừ số tiền 480.000.000đồ ng nà y là không có cơ sở .

. Xét công sức quản lý, gìn giữ, tôn tạ o đấ t củ a ông C từ năm 1995 và ông T từ năm 1996: Xét thấy, mặ c dù trong suố t quá trì nh ông C, ông Thanh quản l đấ t đã trự c tiế p canh tá c có thu lợ i từ việ c trồ ng cây hoa mà u trên diệ n tí ch đấ t nà y nhưng Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y cầ n phả i xem xé t tí nh mộ t phầ n công sứ c quả n lý , giữ gì n, tôn tạ o di sả n cụ N2 để lại này cho ông C số tiề n 30.000.000đồ ng và ông T số tiề n 40.000.000 đồ ng trừ và o di sả n củ a cụ N2 để lại trả cho ông C, ông T là phù hợ p.

. Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị N để lại:

- 01 thửa đấ t số 106, tờ bản đồ số 26, diện tích 3.800m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 4.232,4m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 được UBND huyện K cấp ngày 27/7/1994 mang tên bà Nguyễn Thị Đ1, đất tọa lạc tại thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; hiệ n nay thử a đấ t số 106 đượ c tách làm 02 thử a đấ t gồ m:

+ Thử a đấ t số 55, diệ n tí ch 2.443,2m2 có giá trị đất là 488.640.000 đồ ng.

+ Thử a đấ t số 56, diệ n tí ch 1.789,2m2 có giá trị đất là 357.840.000 đồ ng.

Tổng giá trị tài sản 488.640.000đồ ng + 357.840.000đồ ng = 846.480.000 đồ ng.

Di sản cụ Nguyễn Thị N để lại sau khi trừ đi 40.000.000 đồ ng chi phí mai táng của ông T, 40.000.000 đồ ng công sứ c quả n lý , cải tạo đất của ông T và 30.000.000 đồ ng quả n lý , cải tạo đất của ông C thì được chia như sau : Bà Vũ Thị T1, ông Vũ Minh C, ông Vũ Minh T3, bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B mỗi người được hưởng là: 736.480.000 đồ ng : 05 ngườ i = 147.296.000 đồ ng.

Ông Vũ Văn T + 1/2 suấ t đượ c bà Vũ Thị Tam t cho lại nên được chia là : 147.296.000 đồ ng + 73.648.000đồ ng = 220.944.000 đồ ng.

Ông Vũ Minh C + 1/2 suấ t đượ c bà Vũ Thị Tam t cho lạ i nên đượ c chia là : 147.296.000 đồ ng + 73.648.000đồ ng = 220.944.000 đồ ng.

Bà bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B mỗ i ngườ i đượ c chia là : 147.296.000 đồ ng.

Xét ý kiến của bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B khi chia dia sả n thừ a kế thì các bà có nguyện vọng lấy giá trị đất bằng tiền còn giao đất lạ

i cho ngườ i đang quản lý, sử dụ ng.

Xét hiện nay thửa đất số 56, tờ bả n đồ mớ i là tờ 86 (tờ bả n đồ cũ là tờ 26), diệ n tí ch đấ t 1.789,2m2, ông Vũ Minh C và bà Nguyễn Thị Đ đang quả n lý , sử dụng nên cần giao cho ông Vũ Minh C, bà Nguyễn Thị Đ tiế p tụ c quả n lý , sử dụng nhà, đấ t, tài sản trên đất là phù hợp và thửa đất số 55, đồ mớ i là tờ 86 (tờ bả n đồ cũ là tờ 26), diệ n tí ch đấ t 2.443,2m2, hiệ n nay ông Vũ Văn T đang quả n lý , sử dụ ng nên cầ n giao cho ông Vũ Văn T tiế p tụ c quả n lý , sử dụ ng nhà , đấ t, tài sản trên đất là phù hợp.

Ông Vũ Minh C, bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm trả giá trị đất cho bà

Nguyễn Thị B là 106.896.000đồ ng.

Ông Vũ Văn T có trách nhiệm trả giá trị đất cho bà Vũ Thị G là 147.296.000 đồ ng, bà Nguyễn Thị B là 40.400.000đồ ng.

Ông Vũ Minh C, bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biế n độ ng thử a đấ t số 56, tờ bả n đồ mớ i là tờ 86 (tờ bả n đồ cũ là tờ 26), diệ n tí ch đấ t 1.789,2m2 và ông Vũ Minh T3 có trách nhiệm hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biế n độ ng thử a đấ t số 55, đồ mớ i là tờ 86 (tờ bản đồ cũ là tờ 26), diệ n tí ch đấ t 2.443,2m2 đều nằm trong thửa số 106, tờ bản đồ số 26, diện tích 3.800m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 4.232,4m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 được UBND huyện K cấp ngày 27/7/1994 mang tên bà Nguyễn Thị Đ1, đất tọa lạc tại thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

. Về án phí và chi phí tố tụng khác:

- Về chi phí đo đạc là 4.463.000 đồng; xem xét thẩm định và định giá tài sản là 4.000.000đồng: Tổng chi phí tố tụng là: 8.463.000 đồng. Ông Vũ Minh C, ông Vũ Văn T, bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B mỗi người phả i chị u 2.115.750đồ ng. Tổng số tiền này bà B, bà G đã nộp tạ i Tò a thu ngà y 29/5/2023 nên ông T phải trả cho bà B 2.115.750đồ ng, ông C phải trả cho bà G 2.115.750đồ ng.

- Về án phí:

+ Ông Vũ Văn T, ông Vũ Minh C là người cao tuổi, cón đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩ m theo quy đị nh phá p luậ t.

+ Bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B mỗi người phải chịu á n phí dân sự sơ thẩ m có giá ngạch là 7.364.800đồ ng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147 khoản 2 Điều 165, Điều 241, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 468, khoản 1 Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điề u 615, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 658, Điều 660 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 167 và Điều 179 của Luật Đất đai ; khoản 2 Điề u 71 Luậ t hôn nhân gia đì nh năm 2014;

Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 14 và điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[2]. Tuyên xử:

[2.1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị N đã chết vào ngày 20/9/2015 không để lại di chúc. Di sản cụ Nguyễn Thị N là 01 lô đấ t thửa số 106, tờ bản đồ số 26, diện tích 3.800m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 4.232,4m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 được UBND huyện K cấp ngày 27/7/1994 mang tên bà Nguyễn Thị Đ1, đất tọa lạc tại thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Hiệ n nay thử a đấ t nà y đã đượ c tá ch là m 02 thử a là :

+ Thử a số 55, diệ n tí ch 2443,2m2 có giá trị đất là 488.640.000đồ ng.

+ Thử a đấ số 56, diệ n tí ch đấ t 1789,2m2 có giá trị đất là 357.840.000đồ ng.

Tổng giá trị tài sản 488.640.000đồ ng + 357.840.000đồ ng = 846.480.000 đồ ng. Sau khi trừ đi chi phí mai tá ng 40.000.000đồ ng cho ông T và công quản lý , cải tạo đất cho ông C 30.000.000đồ ng, ông T 40.000.000đồ ng thì tà i sả n chia có giá trị là 736.480.000 đồ ng.

[2.2]. Ông Vũ Minh C, bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm trả giá trị đất cho bà Nguyễn Thị B là 106.896.000đồ ng (mộ t trăm lẻ sá u t riệ u tá m trăm chí n mươi sá u nghìn đồng).

Ông Vũ Văn T có trách nhiệm trả giá trị đất cho

: bà Vũ Thị G là 147.296.000 đồ ng (mộ t trăm bố n bả y triệ u hai trăm chí n mươi sá u nghì n đồ ng ), bà Nguyễn Thị B là 40.400.000đồ ng (bố n mươi triệ u bố n trăm nghì n đồ ng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luậ t dân sự 2015.

Giao cho ông Vũ Minh C, bà Nguyễn Thị Đ toàn quyề n quả n lý , sử dụ ng và đị nh đoạ t đố i vớ i thửa đấ t số 56, tờ bả n đồ mớ i là tờ 86 (tờ bả n đồ cũ là tờ 26), diệ n tí ch đấ t 1789,2m2; đấ t có tứ cậ n : Phía Bắc giáp đường đất dài 46,56m; Phía Nam giá o thừ a đấ t số 67dài 43,81m; Phía Tây giáp thửa đất số 55 (hiệ n nay ông Vũ Văn T quản lý) dài 39,79m; Phía Đông giáp thửa đất số 62, dài 39,50m; Tài sản trên đấ t gồ m: 01 căn nhà căn nhà cấ p 4 xây năm 2005, nên lá ng xi măng , của gỗ, trầ n vá n gỗ ; 01 cản nhà bếp và cá c loạ i công trì nh khá c có kế t cấ u má i lợ p tôn , tườ ng xây gạ ch; 01 giế ng đà o sâu, đườ ng kí nh 1m; phía Bắc có kéo hàng rào B 40 dài 30m; Về cây trồ ng trên đấ t gồ m có 23 cây vả i, 50 cây chanh, 30 cây sưa, 5 cây mít thái, 06 cây sầ u riêng, 20 cây muồ ng.

Giao cho ông Vũ Văn T toàn quyề n quả n lý , sử dụ ng và đị nh đoạ t đố i vớ i thửa đấ t số 55, đồ mớ i là tờ 86 (tờ bả n đồ cũ là tờ 26), diệ n tí ch đấ t 2443,2m2 ; đấ t có tứ cận: Phía Bắc giáp đường đất và thửa đất số 42, dài 69,03m; Phía Nam giáp thử a đấ t số 64 và 67, dài 54,91m; Phía Tây giáp thửa đất số 58, dài 37,53m; Phía Đông giá p thử a đấ t số 56 (đấ t ông Vũ Minh C đang quả n lý , sử dụ ng), dài 39,79m; Tài sản trên đất gồm : 01 căn nhà xây cấ p 4 diệ n tí ch 40m2, xây năm 1988, tườ ng xây gạ ch có tô trá t xi măng , nề n lá ng xi măng , mái lợp ngói ; 01 giế ng đà o sâu 12m, đườ ng kí nh 1,4m; 01 giế ng khoan sâu 50m; hàng rào B40 bao quanh; về cây trồ ng trên đấ t gồ m: 300 cây cau, 06 cây sầ u riêng, 14 cây sao; ngoài ra trên đất có 01 ao cá diệ n tí ch 263,7m2, sâu 1,5m.

Thử a đấ t số 55 và 56 nêu trên đề u nằ m trong thửa số 106, tờ bản đồ số 26, diện tích 3.800m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 4.232,4m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 được UBND huyện K cấp ngày 27/7/1994 mang tên bà Nguyễn Thị Đ1, đất tọa lạc tại thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Ông Vũ Minh C, bà Nguyễn Thị Đ và ông Vũ Văn T được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để là m thủ tụ c đăng ký biế n độ ng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy đị nh phá p luậ t.

[3]. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:

- Về chi phí đo đạc là 4.463.000 đồng; xem xét thẩm định và định giá tài sản là 4.000.000đồng: Tổng chi phí tố tụng là: 8.463.000 đồng. Ông Vũ Minh C, ông Vũ Văn T, bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B mỗi người phả i chị u 2.115.750 đồ ng. Tổng số tiền này bà B, bà G đã nộp tạ i Tò a á n thu ngà y 29/5/2023 nên ông T phải trả cho bà B 2.115.750 đồ ng, ông C phải trả cho bà G 2.115.750 đồ ng.

- Về án phí:

+ Ông Vũ Văn T, ông Vũ Minh C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự theo quy đị nh phá p luậ t.

+ Bà Vũ Thị G, bà Nguyễn Thị B mỗi người phải chịu 7.364.800 đồ ng.

[4]. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có mặ t tạ i phiên tò a có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ