vanban.org

Bản án 27/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 21/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Đ

Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền cụ thể như sau: Nợ gốc: 5.331.152 đồng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện bà Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Đ
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 185 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/DS-ST
Ngày: 21/7/2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín
dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Đức Phú

Ông Bùi Quang Hợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Thanh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Chiêm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-DS ngày 15/6/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ;

Địa chỉ: Số 130, P, phường 3, quận P, thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thanh T – chủ tịch Hội đồng quản trị;

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Quang H – Giám đốc chi nhánh Bắc Ninh;

Đại diện theo ủy quyền lại: ông Nguyễn Thanh H – Nhân viên phát triển kinh doanh ngân hàng TMCP Đ – chi nhánh Bắc Ninh; Địa chỉ số 304, dường T, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; HKTT: khu 4, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Xuân Tr, sinh năm 1980; HKTT: khu 6, phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Bắc Ninh có cho bà Nguyễn Thị T vay số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng); Lãi suất: 10%/năm (tính theo phương pháp lãi gộp); thời hạn vay: 12 tháng, ngày vay 26/5/2015, ngày đến hạn 26/5/2016; mục đích vay: kinh doanh; khoản vay trên thể hiện bằng giấy đề nghị vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ đề ngày 01/5/2015 và được ngân hàng Đ duyệt ngày 10/5/2015. Sau khi ký hợp đồng, ngân hàng Đ đã chuyển toàn bộ số tiền vay vào tài khoản của bà Nguyễn Thị T vào ngày 26/5/2015. Cùng ngày, bà T đã rút toàn bộ số tiền trên theo giấy lĩnh tiền kiêm bảng kê đề ngày 26/5/2015.

Để bảo đảm cho khoản vay, ông Lương Xuân Tr, sinh năm 1980; HKTT: khu 6, phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh có ký bảo lãnh cho bà Nguyễn Thị T vay khoản tiền trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị T có trả được cho ngân hàng số tiền gốc là 14.668.848 đồng, lãi 1.846.152 đồng. Lần trả cuối cùng vào ngày 25/02/2016. Sau đó, dù Ngân hàng đã đòi nhiều lần nhưng bà T không thực hiện tiếp nghĩa vụ trả nợ.

Do Bà Nguyễn Thị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên DongA Bank đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 13/01/2023, Bà Nguyễn Thị T còn nợ các khoản sau:

Nợ gốc: 5.331.152 đồng; nợ lãi trong hạn: 153.848 đồng; nợ lãi quá hạn: 5.303.806 đồng

Tổng cộng : 10.788.806 VND

Với nội dung trên, ngân hàng TMCP Đ đề nghị tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh buộc bà Nguyễn Thị T trả ngay cho DongA Bank tổng số nợ còn thiếu (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, vốn) tính đến ngày 13/01/2023 là 10.788.806 VND và tiền lãi phát sinh từ ngày 14/01/2023 đến ngày Bà Nguyễn Thị T thực trả hết nợ cho DongA Bank theo lãi suất quá hạn được quy định trên giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước nhận nợ.

Nếu bà T không thực hiện được yêu cầu người bảo lãnh là ông Lương Xuân Tr thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay bà T.

Bà Nguyễn Thị T phải chịu mọi án phí phát sinh.

Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã tiến hành triệu tập nhiều lần nhưng bà Nguyễn Thị T không chấp hành, không lên làm việc.

Tại lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lương Xuân Tr trình bày:

Vào khoảng tháng 5 năm 2015, do nhu cầu chi tiêu nên chị Nguyễn Thị T có vay ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Bắc Ninh số tiền 20.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay ông Tr có ký bảo lãnh cho chị Thu tại ngân hàng. Ông Tr xác nhận chữ ký ở phần người bảo lãnh trong giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ là đúng chữ ký của ông.

Sau khi ký hợp đồng vay, việc Ngân hàng giải ngân và thực hiện hợp đồng như thế nào thì ông Tr không biết vì bà T không thông báo với ông.

Về yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, ông Tr đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông Tr nhận nghĩa vụ bảo lãnh nhưng trình bày do đang bị giam giữ nên đề nghị xem xét.

Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn phát biểu: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ là:

Nợ gốc là 5.331.152 đồng;

Nợ lãi trong hạn: 153.848 đồng;

Nợ lãi quá hạn tính đến ngày 21/7/2023 là 5.675.727 đồng.

Ngoài ra, bà T còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 22/7/2023 đến ngày Bà Nguyễn Thị T thực trả hết nợ cho DongA Bank theo lãi suất quá hạn được quy định trên giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước nhận nợ

Nếu bà T không thực hiện được yêu cầu người bảo lãnh là ông Lương Xuân Tr thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay bà T.

Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện VKSND thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Xác định trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự về việc nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt và gửi các văn bản tố tụng cũng như thời hạn giải quyết vụ án; tại phiên toà HĐXX đã đảm bảo đúng các nguyên tắc và thủ tục tố tụng tại phiên toà; nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành giấy triệu tập và các quyết định của tòa án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 290, 305, 427, 471, 474, 476, 478 Bộ luật dân sự 2005; Điều 668 Bộ luật dân sự năm 2015;

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị T trả cho Ngân hàng TMCP Đ nợ gốc là 5.331.152 đồng; nợ lãi trong hạn: 153.848 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày 21/7/2023 là 5.675.727 đồng.

Ngoài ra, bà T còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 22/7/2023 đến ngày Bà Nguyễn Thị T thực trả hết nợ cho DongA Bank theo lãi suất quá hạn được quy định trên giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước nhận nợ

Trường hợp bà Nguyễn Thị T không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ thì ông Lương Xuân Tr có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà Nguyễn Thị T.

Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn là bà Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại khu 4, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nên nguyên đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng thẩm quyền theo quy định Điều 26 và khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 BLTTDS năm 2015.

Theo nội dung vụ án, bà Nguyễn Thị T có vay của ngân hàng TMCP Đ số tiền 20.000.000 đồng. Thời hạn trả nợ của các khoản vay trên là tháng 5/2016. Bà T đã thực hiện phần lớn nghĩa vụ trả nợ, lần trả cuối cùng vào ngày 25/02/2016. Sau ngày 25/02/2016, Ngân hàng TMCP Đ đã nhiều lần liên hệ đòi nợ và được bà T hứa trả nhưng không thực hiện. Đến ngày 12/11/2020, ngân hàng TMCP Đ làm đơn khởi kiện. Ngày 13/01/2023, Ngân hàng TMCP Đ làm đơn khởi kiện bổ sung. Sau khi vụ án được thụ lý, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản cho bà Nguyễn Thị T. Bà T không chấp hành, không phản hồi và không lên làm việc tại tòa án. Các đương sự cũng không đề nghị xem xét áp dụng thời hiệu.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lương Xuân Tr đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung vụ án: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu có trong hồ sơ có thể xác định như sau:

Vào tháng 5 năm 2015, bà Nguyễn Thị T đăng ký vay số tiền 20.000.000 đồng của Ngân hàng TMCP Đ. Nội dung vay tiền được thể hiện bởi giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế nước nhận nợ. Theo đó, bà Nguyễn Thị T vay của ngân hàng TMCP Đ số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay: kinh doanh; lãi suất 10%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Lương Xuân Tr (chồng bà T) đã bão lãnh cho bà Nguyễn Thị T. Sau khi được phê duyệt, ngày 26/5/2015, ngân hàng Đ đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản của bà Nguyễn Thị T. Bà Nguyễn Thị T đã rút số tiền vay theo giấy lĩnh tiền kiêm bảng kê đề ngày 26/5/2015.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị T đã trả cho Ngân hàng TMCP Đ nhiều lần với số tiền nợ gốc là 14.668.848 đồng, lãi 1.846.152 đồng. Lần trả cuối cùng vào ngày 25/02/2016. Sau ngày 25/02/2016, bà T không tiếp tục thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Đến ngày hết hạn trả nợ 26/5/2016, bà Nguyễn Thị T còn nợ ngân hàng TMCP Đ số tiền gốc là 5.331.152 đồng. Ngân hàng TMCP Đ đã chuyển khoản nợ trên sang nợ quá hạn. Ngân hàng TMCP Đ đã nhiều lần đốc thúc nhưng bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, bà Nguyễn Thị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng được thể hiện bằng Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế nước nhận nợ được phê duyệt ngày 10/5/2015 và giấy lĩnh tiền kiêm bảng kê ngày 26/5/2015. Do vậy, cần buộc bà Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng TMCP Đ số tiền gốc và lãi suất quá hạn tính từ thời điểm vi phạm theo quy định của pháp luật và thỏa thuận trong hợp đồng. Trong đó: nợ gốc là 5.331.152 đồng; nợ lãi trong hạn: 153.848 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày 21/7/2023 là 5.675.727 đồng

Ngoài ra, bà T còn phải chịu tiền lãi, lãi quá hạn phát sinh từ ngày 22/7/2023 đến ngày Bà Nguyễn Thị T thực trả hết nợ cho DongA Bank theo lãi suất quá hạn được quy định trên giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước nhận nợ

Trường hợp bà Nguyễn Thị T không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ thì ông Lương Xuân Tr là người bảo lãnh có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà Nguyễn Thị T

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 290, 305, 427, 471, 474, 476, 478 Bộ luật dân sự 2005; Điều 668 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều: 26, 35, 39, 147, 184, 185, 220, 227, 228, 235, 254, 262, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14

Xử:

1.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Đ

Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền cụ thể như sau:

- Nợ gốc: 5.331.152 đồng;

- Nợ lãi trong hạn: 153.848 đồng;

- Nợ lãi quá hạn tính đến ngày 21/7/2023 là 5.675.727 đồng.

(Tổng cộng bà Nguyễn Thị T phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 11.160.727 đồng – mười một triệu một trăm sáu mươi nghìn bảy trăm hai mươi bảy đồng)

Kể từ ngày 22/7/2023, bà Nguyễn Thị T còn phải chịu tiền lãi, lãi quá hạn phát sinh trên số tiền gốc chậm trả cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký.

Trường hợp bà Nguyễn Thị T không tra nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì ông Lương Xuân Tr là người bảo lãnh có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà Nguyễn Thị T.

2. Về án phí dân sự:

- Bà Nguyễn Thị T phải chịu 558.036 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm

- Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0001770 ngày 02/03/2023 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ