- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hồ sơ dân sự"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ Tín dụng nhân dân N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/DS-ST Ngày 15-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Mẫn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Tùng.
2. Bà Lê Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Tô Minh Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 173/2022/TLST-DS ngày 01/11/2022 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Quỹ Tín dụng nhân dân N.
Địa chỉ: Đ Bùi Quang Tr, phường PhTh, quận C, thành phố C.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Quốc V (Có mặt).
Chức vụ: Cán bộ tín dụng Quỹ Tín dụng nhân dân N.
Bị đơn:
1. Ông Phạm Hồng Nh (Vắng mặt).
2. Bà Dương Thị Trúc L (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu vực ThTh, phường ThTh, quận C, thành phố C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của Quỹ Tín dụng nhân dân N (gọi tắt là Quỹ tín dụng) trình bày: Ngày 18/11/2019 ông Nh, bà L đề nghị vay vốn bằng hình thức tín chấp với Quỹ tín dụng. Cùng ngày Quỹ tín dụng ký Hợp đồng tín dụng số 144/2019/HĐTD/QTDNDNCT (gọi tắt là hợp đồng tín dụng) với ông bà cho vay 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng, thời hạn vay 24 tháng kể từ ngày ký hợp đồng đến ngày 18/11/2021. Lãi suất, trả nợ và các thỏa thuận khác được thể hiện cụ thể trong từng điều khoản của hợp đồng tín dụng. Ông bà đã nhận đủ tiền vay (thông qua Phiếu chi ngày 18/11/2019 và Giấy nhận nợ ngày 18/11/2019). Quá trình vay ông bà đã trả được nợ gốc và lãi tổng cộng 16.415.148 đồng (Gồm: nợ gốc 14 kỳ x 834.000 đồng = 11.676.000 đồng và lãi 4.739.148 đồng) đến ngày 18/01/2021 thì ngưng trả.
Tính đến ngày 15/6/2022 ông bà còn nợ tổng số tiền 12.870.587 đồng (Gồm: gốc 8.324.000 đồng, lãi trong hạn 3.237.168 đồng, lãi quá hạn 1.309.419 đồng) thì không trả nữa.
Quỹ tín dụng đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông bà trả số tiền nợ còn lại và đến nay khoản vay cũng đã hết hạn nhưng ông bà vẫn không thực hiện. Quỹ tín dụng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nh, bà L trả nợ vay gốc với tổng số tiền 15.820.300 đồng (Trong đó: Nợ vay gốc 8.324.000 đồng, lãi trong hạn 4.960.200 đồng, lãi quá hạn 2.536.100 đồng) và tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận hợp đồng kể từ ngày 16/3/2023 đến khi tất toán khoản nợ trên.
Bị đơn ông Nh, bà L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được lời trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng.
Diễn biến tại phiên tòa, đại diện Quỹ tín dụng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cung cấp Bảng tính lãi cập nhật đến ngày 15/3/2023 yêu cầu ông Nh, bà L trả tổng số tiền nợ gốc, lãi là 15.820.300 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự: Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký tòa án cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, Điều 93 đến Điều 97, 195, 196, 203 và các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, quá trình giải quyết vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa chứng minh được ông Nh, bà L có thỏa thuận, ký hợp đồng tín dụng với Quỹ tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nh, bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ mặc dù đã được Quỹ tín dụng thông báo, nhắc nhở nhưng vẫn không thực hiện cho dù đến nay khoản vay đã hết thời hạn vay và số sợ tính đến ngày 15/3/2023 là 15.820.300 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quỹ tín dụng và ông Nh, bà L phát sinh quan hệ vay tiền theo Hợp đồng tín dụng đã ký, quá trình thực hiện hợp đồng vay ông bà vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và bị Quỹ tín dụng khởi kiện. Căn cứ nội dung khởi kiện Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo thẩm quyền quy định tại Khoản 5 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a Khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng. Ông Nh, bà L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông.
Ông Nh, bà L đã nhận tiền vay, tính đến ngày 15/6/2022 ông bà đã trả được một phần nợ vay bao gồm gốc và lãi 16.415.148 đồng, còn nợ tiền vay gốc 8.324.000 đồng chưa trả. Quỹ tín dụng đã có văn bản làm việc/nhắc nợ vào các ngày 10/3/2021, ngày 24/3/2021, ngày 19/4/2021, ngày 19/5/2021 nhưng ông bà vẫn không thực hiện chứng tỏ ông bà đã vi phạm hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng nên phải có nghĩa vụ trả toàn bộ tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày 15/3/2023 là 15.820.300 đồng (Gồm: Tiền vay gốc 8.324.000 đồng, lãi trong hạn 4.960.200 đồng, lãi quá hạn 2.536.100 đồng). Ngoài ra, ông bà còn phải trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 16/3/2023 cho đến khi trả hết tiền nợ gốc trên.
Do yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng có căn cứ chấp nhận nên ông Nh, bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 791.000 đồng (đã làm tròn) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quỹ tín dụng được nhận lại tiền tạm ứng án phí 321.765 đồng theo Biên lai số 0008691 ngày 20/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 5 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 95, điểm a Khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ Tín dụng nhân dân N.
Buộc ông Phạm Hồng Nh và bà Dương Thị Trúc L phải trả cho Quỹ Tín dụng nhân dân N 15.820.300 đồng và tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 144/2019/HĐTD/QTDNDNCT ngày 18/11/2019 kể từ ngày 16/3/2023 cho đến khi trả hết nợ.
Ông Phạm Hồng Nh và bà Dương Thị Trúc L phải chịu 791.000 đồng (đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm, Quỹ tín dụng được nhận lại tiền tạm ứng án phí 321.765 đồng theo Biên lai số 0008691 ngày 20/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân Tp. Cần Thơ; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Cần Thơ; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục Thi hành án dân sự Q. Cái Răng; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ (TC: 12). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Minh Mẫn |